Blog

Rượu vang Pháp: Các yếu tố làm nên sức hấp dẫn lâu dài

0

Pháp – quê hương của rượu vang Bordeaux, Burgundy và Champagne – quốc gia sản xuất rượu vang quan trọng nhất thế giới. Trong nhiều thế kỷ, Pháp đã sản xuất rượu vang với số lượng lớn hơn – và có chất lượng cao hơn – so với bất kỳ quốc gia nào khác. Rượu vang Pháp đã ăn sâu vào văn hóa Pháp ở hầu hết mọi cấp độ xã hội, nó là thức uống của cả giới thượng lưu và dân thường, và là biểu tượng chính trong Công giáo La Mã, tôn giáo đa số của nước Pháp.

Rượu vang Pháp – France wine

Tuy nhiên, sức hấp dẫn lâu dài của rượu vang Pháp không phải là khối lượng hoặc uy tín của nó, mà là sự đa dạng về phong cách có sẵn. Sở thích của người tiêu dùng đã thay đổi qua nhiều thế kỷ, đã khuyến khích các nghệ nhân làm rượu vang Pháp phát triển các phong cách rượu vang mới từ lãnh thổ và các giống nho có sẵn. Rượu vang đỏ, rượu vang trắng, rượu vang ngọt, rượu vang hồng, rượu vang không ngọt, rượu vang sủi tăm, sang trọng, sắc nét, thơm mùi khoáng chất, đậm đà vị trái cây – các vườn nho Pháp đã sản xuất đủ loại rượu vang phù hợp với tất cả các loại kể trên.

Vậy vì sao các nghệ nhân Pháp lại có thể sản xuất ra rất nhiều phong cách rượu vang như vậy?

Sự đa dạng của rượu vang Pháp một phần là do khí hậu rộng lớn của đất nước. Champagne, khu vực phía Bắc, là một trong những vùng khí hậu tuyệt vời trên thế giới cho việc trồng nho – trái ngược với khí hậu ấm áp, khô của Rhone Valley cách 350 dặm (560km)phía đông nam. Bordeaux, ở phía tây nam, có khí hậu duyên hải chịu ảnh hưởng lớn của đại dương Đại Tây Dương về phía tây và các con sông khác nhau uốn lượn giữa những vườn nho của nó. Khác xa với bất kỳ ảnh hưởng đại dương nào, các khu vực phía đông như Burgundy và Alsace có khí hậu lục địa, với mùa hè khô, ấm và mùa đông lạnh. Ở miền nam nước Pháp, Provence và Languedoc-Roussillon tận hưởng khí hậu Địa Trung Hải rõ ràng, đặc trưng bởi mùa hè nóng bức và mùa đông tương đối ôn hòa.

Rượu vang Pháp – France wine
Rượu champagne Vignier Brut 2009
Rượu champagne Vignier Brut 2009
Vang Pháp Chateau Mouton Rothschild 2004
Vang Pháp Chateau Mouton Rothschild 2004
Vang Pháp Chateau Leoville Las Cases 1994
Vang Pháp Chateau Leoville Las Cases 1994
Vang Pháp Chateau Margaux 2004
Vang Pháp Chateau Margaux 2004

Địa chất và địa hình đóng vai trò quan trọng không kém vào sự đa dạng của rượu vang Pháp. Số lượng lớn các vùng rượu vang và tiểu vùng được công nhận độc lập phản ánh nhiều loại đất – và cảnh quan đã tạo ra chúng. Mỗi tiểu vùng có thể được xác định bởi các đặc điểm địa lý cụ thể của nó, từ đó tạo ra các đặc điểm đặc trưng cho các loại rượu vang được sản xuất ở đó. Từ những ngọn đồi đá granit của Beaujolais đến những sườn dốc nổi tiếng của Chablis và những viên sỏi của Medoc, những địa điểm mà các vườn nho của Pháp đã được phát triển đều được coi là quan trọng và là trung tâm của khái niệm terroir.

Terroir của một khu vực thể hiện các giống nho được sử dụng để sản xuất rượu vang truyền thống của vùng đó. Trước khi canh tác nho hiệu quả, người trồng nho đã trồng bất cứ thứ gì phù hợp nhất với đất và khí hậu địa phương bằng việc lựa chọn từ trong số các giống nho (thường có giới hạn) có sẵn. Do đó, mối quan hệ giữa các vùng rượu vang Pháp và các giống nho chủ chốt của chúng đã phát triển tự nhiên trong nhiều thế kỷ, chẳng hạn như mối quan hệ chặt chẽ giữa nho Pinot Noir và vùng Burgundy. Khi một loại rượu vang được sử dụng ở nhiều vùng, kiểu rượu vang mà nó tạo ra ở mỗi vùng cũng phát triển tự nhiên khác nhau chẳng hạn sự khác biệt của rượu vang Chardonnay từ vùng Champagne (sắc nét, chua, axit, lấp lánh), và vùng Macon (tròn đầy, chín mọng, đậm đà vị trái cây hơn).

Hệ thống tên gọi phức tạp của Pháp xác định từng vùng rượu vang và ranh giới của nó và áp đặt các quy tắc nghiêm ngặt xung quanh các hoạt động sản xuất rượu vang. Bảo vệ tên của rượu vang Pháp và đảm bảo chất lượng và xuất xứ của chính các sản phẩm là mục tiêu chính của nó. Không có quốc gia nào khác đã phát triển hệ thống tên gọi của mình đến mức như vậy.

Chính sự phân loại toàn diện, phức tạp về phong cách và cấp độ chất lượng rượu vang của Pháp góp phần tạo nên sản lượng và sự đa dạng tuyệt vời của rượu vang Pháp. Hàng năm, nước này sản xuất hơn 50 triệu hL rượu vang (6500 triệu chai tiêu chuẩn) từ khoảng 1,9 triệu mẫu Anh (775.000ha) vườn nho.

Hội chứng thiếu máu và cách nhận biết

0

Suckhoedoisong.vn – Thiếu máu là hiện tượng giảm lượng huyết sắc tố và số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi dẫn đến thiếu oxy cung cấp cho các mô tế bào trong cơ thể, trong đó giảm huyết sắc tố có ý nghĩa quan trọng nhất.

Phân loại thiếu máu

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, thiếu máu xảy ra khi mức độ huyết sắc tố lưu hành của một người nào đó thấp hơn mức độ của một người khỏe mạnh cùng giới, cùng tuổi, cùng một môi trường sống. Bởi vậy, thực chất thiếu máu là sự thiếu hụt lượng huyết sắc tố trong máu lưu hành. Số lượng hồng cầu và hematocrit là một chỉ số phản ánh không trung thành của thiếu máu vì nồng độ huyết sắc tố trung bình của mỗi hồng cầu, thể tích trung bình của hồng cầu dễ thay đổi theo tính chất thiếu máu và do những tác động của những yếu tố khác.

Có nhiều loại thiếu máu, có nhiều cách để phân loại thiếu máu, tuy nhiên cần dựa vào những cơ sở sau đây để phân loại thiếu máu: Hình thái hồng cầu: (hồng cầu to, nhỏ; hồng cầu nhược sắc, bình sắc), nguyên nhân, vị trí (trong tủy xương, ngoài tủy xương).

Thiếu máu là hội chứng hay gặp.
Thiếu máu là hội chứng hay gặp.

Nguyên nhân
Tại tủy xương: Thiếu dinh dưỡng, giảm sản xuất tại tủy xương như suy tủy, mắc một số bệnh máu ác tính.

Ngoài tủy xương: Mất máu cấp tính như chấn thương, chảy máu sau đẻ, nhiễm trùng…

Tuy nhiên, cách phân loại này chưa đầy đủ mà cần phải dựa theo từng nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.

Dấu hiệu nhận biết
Thiếu máu là một hội chứng hay gặp trong nhiều bệnh, nhất là các bệnh về máu. Chẩn đoán hội chứng thiếu máu, phân loại và tìm nguyên nhân phải dựa vào các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm, nhưng chủ yếu và quyết định phải dựa vào các xét nghiệm. Vì vậy, cần phải đi khám nếu nhận thấy có các triệu chứng lâm sàng sau:

Triệu chứng cơ năng: Người bệnh có thể cảm thấy có các dấu hiệu như ù tai, hoa mắt, chóng mặt thường xuyên hay khi thay đổi tư thế hoặc khi gắng sức. Có thể ngất lịm, nhất là khi thiếu máu nhiều. Nhức đầu, giảm trí nhớ, mất ngủ hoặc ngủ gà, thay đổi tính tình (hay cáu gắt), tê tay chân, giảm sút sức lao động trí óc và chân tay. Hồi hộp đánh trống ngực, khó thở, có thể đau vùng trước tim do thiếu máu cơ tim. Chán ăn, đầy bụng, đau bụng, ỉa lỏng hoặc táo bón.

Triệu chứng thực thể: Da xanh xao, niêm mạc nhợt nhạt; hoặc có thể kèm theo vàng da, niêm mạc nếu thiếu máu huyết tán; hoặc có thể kèm theo xạm da, niêm mạc, nếu thiếu máu do rối loạn chuyển hóa sắt. Đặc biệt, có thể quan sát rõ ở vị trí da mỏng, trắng như mặt, lòng bàn tay… hoặc ở niêm mạc mắt, môi, lưỡi, vòm miệng… Màu sắc của niêm mạc phản ánh trung thành hơn màu sắc của da.

Lưỡi màu nhợt, hoặc có thể nhợt vàng trong huyết tán, hoặc bự bẩn trong thiếu máu do nhiễm khuẩn, hoặc lưỡi đỏ lừ và dày lên trong thiếu máu Biermer. Gai lưỡi mòn hay mất làm lưỡi nhẵn bóng, có thể có vết ấn răng (thường gặp trong thiếu máu mạn và nhược sắc).

Tóc rụng, móng tay giòn, dễ gãy, chân móng bẹt hoặc lõm, màu đục, có khía, bở, dễ gãy,…

Khi thiếu máu, tim sẽ phải đập nhanh và có thể có tiếng thổi tâm thu thiếu máu. Nếu thiếu máu lâu mà không được phát hiện và điều trị, có thể dẫn đến suy tim, rất nguy hiểm.

Chính vì vậy, khi có các triệu chứng trên, nên đi khám bệnh để có chẩn đoán xác định, tìm nguyên nhân thiếu máu và giúp điều trị bệnh có hiệu quả.

BSCKII. Trương Thị Minh Nguyệt

Phòng biến chứng do viêm amidan

0

Suckhoedoisong.vn – Viêm amidan là bệnh lý thường gặp ở cả người lớn và trẻ em, nhưng bệnh chiếm tỷ lệ cao ở trẻ. Bệnh tiến triển thành từng đợt, có thể tự khỏi, có thể gây những biến chứng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người bệnh.
Dấu hiệu nhận biết

Viêm amidan cấp do liên cầu bêta tan huyết nhóm A: Bệnh thường gặp ở trẻ em tuổi học đường (7-14 tuổi). Chữa khỏi dễ dàng nhưng cũng có khi gây biến chứng nguy hiểm như: Viêm cầu thận cấp, viêm khớp, thấp tim gây tổn thương van tim: Hẹp van 2 lá: bệnh tự miễn, xuất hiện sau viêm họng 10-30 ngày. Bệnh thường biểu hiện với các dấu hiệu như: trẻ sốt, mệt mỏi, đau họng, đau đầu, hạch góc hàm sưng to, đau. Xét nghiệm có liên cầu beta tan huyết nhóm A.

Viêm amidan cấp: Là tình trạng viêm sung huyết hoặc làm mủ của amidan khẩu cái. Đa số do virus (70%), hay gặp ở trẻ em và lứa tuổi thiếu niên, chiếm 10-15% nhiễm khuẩn hô hấp trên. Bệnh biểu hiện với các dấu hiệu như sốt cao, hơi thở hôi, đau mỏi mình mẩy, cảm giác đau nhói tại chỗ tương ứng hai bên góc hàm, đau lan lên tai, đau tăng khi nuốt, ho từng cơn do kích thích và xuất tiết, ở trẻ em thường khò khè, ngủ ngáy. Các nguyên nhân gây viêm amidan cấp gồm có:

Viêm amidan do virus: Toàn bộ niêm mạc họng đỏ, 2 amidan sưng to, đỏ, bề mặt phủ một lớp tiết nhầy, không có giả mạc, không có chấm mủ; thành sau họng các tổ chức lympho viêm đỏ.
Viêm amidan do vi khuẩn: Niêm mạc đỏ rực, 2 amidan to, trên bề mặt có chấm mủ, có thể có giả mạc mềm, dễ bóc, không chảy máu. Phản ứng hạch góc hàm, hạch to, đau. Đôi khi có thể kèm theo ngạt mũi và khàn tiếng do viêm nhiễm đường hô hấp trên phối hợp.

Viêm amidan mạn tính: Là tình trạng viêm quá phát hoặc xơ teo amidan khẩu cái sau nhiều đợt viêm bán cấp. Người bệnh thường có cảm giác vướng họng, đôi khi đau nhói trong họng, thỉnh thoảng ho khan, khàn tiếng, hơi thở hôi. Đối với thể viêm amidan quá phát, bệnh nhân ngủ ngáy thường xuyên hoặc tăng lên trong đợt viêm amidan, một số trường hợp còn phát hiện cơn ngừng thở khi ngủ, thể bệnh này hay gặp ở trẻ em. Khi thăm khám thấy 2 amidan to chạm nhau, trên bề mặt có nhiều khe, hốc có thể đọng lại ít mủ nhầy hoặc chất bã đậu. Với thể xơ teo thấy 2 amidan nhỏ nằm trong hốc amidan, bề mặt xơ, có nhiều hốc chứa chất bã đậu, hai trụ amidan viêm dày đỏ, sẫm màu.

Viêm amidan chiếm tỷ lệ cao ở trẻ.

Viêm amidan chiếm tỷ lệ cao ở trẻ.

Điều trị
Viêm amidan do virus: Chủ yếu điều trị triệu chứng: nằm nghỉ ngơi, ăn nhẹ, uống đủ nước; dùng thuốc hạ sốt, giảm đau; vệ sinh mũi họng bằng dung dịch sát khuẩn hoặc nước muối sinh lý; kiêng rượu, bia, chất kích thích.

Viêm amidan do vi khuẩn: Dùng kháng sinh đường toàn thân: tùy mức độ có thể dùng thuốc đường uống hoặc đường tiêm; điều trị triệu chứng giống như viêm amidan do virus.

Có nguy hiểm không?
Viêm amidan là bệnh lý thường gặp, có thể tự khỏi nhưng có trường hợp gây biến chứng tại chỗ, kế cận hoặc toàn thân.

Biến chứng tại chỗ: Viêm tấy và áp-xe quanh amidan: Thường xảy ra với viêm amidan cấp không được điều trị, nhiễm khuẩn lan dần và thành mủ giữa amidan và bao amidan, bệnh nhân thường đau tăng, đau lan lên tai, nuốt đau, không nuốt được, nước bọt chảy ra, miệng há khó khăn. Điều trị bằng kháng sinh đường tiêm và dẫn lưu áp-xe.

Biến chứng kế cận: Viêm tai giữa, viêm mũi xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản…

Biến chứng toàn thân: Nhiễm khuẩn huyết, viêm cầu thận cấp, thấp khớp cấp, thấp tim hay gặp do liên cầu tan huyết nhóm A.

Khi nào cần cắt amidan?
Amidan được chỉ định cắt trong các trường hợp sau: viêm amidan quá phát gây tắc nghẽn đường hô hấp, ngừng thở khi ngủ; viêm amidan tái phát nhiều lần (7 lần/năm; 5 lần/năm trong 2 năm; 3 lần/năm trong 3 năm); viêm amidan mạn tính, gây thở hôi kéo dài; amidan to một bên, nghi ngờ ác tính; viêm amidan gây biến chứng: áp-xe, viêm tấy quanh amidan, viêm mũi xoang, viêm thanh quản, viêm tai giữa, viêm cầu thận, viêm khớp, viêm màng tim.

Thực tế, chỉ định cắt amidan là rất hạn chế sau khi các bác sĩ khám phá ra các lợi ích của amidan đối với cơ thể trẻ em. Số các cháu viêm amidan nhẹ rất nhiều và không cần thiết phải cắt. Chỉ các em bị viêm nhiễm nhiều, amidan hoàn toàn không còn lợi ích cho cơ thể, mới nghĩ đến cắt bỏ.

Lưu ý: Cắt amidan có thể gây biến chứng tử vong do nhiều nguyên nhân: gây mê, cắt không đúng kỹ thuật (cắt chạm mạch máu gây chảy máu, không cầm được), bệnh nhân có rối loạn đông máu. Chính vì vậy mà trước khi cắt, bệnh nhân phải được làm các xét nghiệm rất kỹ về các chức năng gan, thận và đông máu để tránh những tai biến đáng tiếc xảy ra. Nếu có chỉ định, bệnh nhân nên phẫu thuật tại các bệnh viện có chuyên khoa tai mũi họng, không nên đến phẫu thuật ở phòng mạch tư, rất dễ gặp sự cố.

Sau phẫu thuật phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn uống và vệ sinh răng miệng. Sau cắt amidan từ 7-10 ngày nếu có chảy máu, cần đến bệnh viện để bác sĩ kiểm tra và xử trí kịp thời. Trẻ dưới 5 tuổi và người lớn trên 45 tuổi nên hạn chế cắt amidan, bởi trẻ dưới 5 tuổi cắt amidan có thể ảnh hưởng khả năng miễn dịch, còn người trên 45 tuổi cắt amidan dễ bị chảy máu do amidan xơ dính hoặc có các bệnh khác kèm theo như tăng huyết áp, tim mạch, đái tháo đường…

ThS. Nguyễn Lê Anh

Theo dõi các mức độ của sốt xuất huyết, tránh tử vong

0

Suckhoedoisong.vn – Liên quan đến vài trường hợp tử vong do sốt xuất huyết tại Hà Nội và TP.HCM, các chuyên gia cảnh báo, khi mắc sốt xuất huyết, người dân cần đến cơ sở y tế để điều trị, tránh trường hợp lo ngại COVID-19 mà vào bệnh viện quá muộn, khiến bệnh có diễn tiến nguy hiểm.

Sốt xuất huyết (SXH) với những biểu hiện lâm sàng khá đa dạng và tỷ lệ diễn biến nặng cao. Nếu không được phát hiện, chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời sẽ dễ dẫn đến tử vong. Vì vậy không nên chủ quan khi đối diện với SXH vì bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắc-xin phòng bệnh.

Giai đoạn nguy hiểm của SXH
Bệnh thường khởi phát đột ngột và tiến triển qua 3 giai đoạn là giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục.

Giai đoạn nguy hiểm thường xảy ra từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 sau khi bị sốt. Người bệnh có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt và có các biểu hiện như thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch thường kéo dài từ 24-48 giờ; tràn dịch màng phổi, mô kẽ, màng bụng, phù nề mi mắt, gan to và có thể đau. Nếu bị thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến tình trạng sốc với các biểu hiện như vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh các đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh, nhỏ; lượng nước tiểu ít. Triệu chứng xuất huyết có thể xảy ra ở dưới da, niêm mạc và nội tạng.

Dấu hiệu xuất huyết dưới da được biểu hiện với các nốt xuất huyết rải rác hoặc chấm xuất huyết thường thấy ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong cánh tay, bụng, đùi, mạng sườn hoặc mảng bầm tím. Dấu hiệu xuất huyết niêm mạc được biểu hiện với hiện tượng chảy máu mũi, lợi; đi tiểu ra máu, kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh sớm hơn kỳ hạn.
Dấu hiệu xuất huyết nội tạng có thể thấy ở hệ tiêu hóa, phổi, não; đây là dấu hiệu nặng. Ngoài ra, một số trường hợp nặng có thể có biểu hiện suy phủ tạng như viêm gan nặng, viêm não, viêm cơ tim. Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở một số người bệnh không có dấu hiệu thoát huyết tương rõ hoặc không bị sốc; vì vậy trên thực tế lâm sàng cần cảnh giác.

Giai đoạn hồi phục thường xảy ra từ 24-48 giờ sau giai đoạn nguy hiểm khi có hiện tượng tái hấp thu dần từ mô kẽ vào bên trong lòng mạch máu. Giai đoạn hồi phục kéo dài khoảng từ 48-72 giờ sau đó. Người bệnh hết sốt, thể trạng tốt dần lên, có cảm giác thèm ăn, huyết động ổn định và bắt đầu đi tiểu nhiều.

Với diễn biến lâm sàng qua 3 giai đoạn đã nêu trên, việc theo dõi bệnh nhân chặt chẽ rất cần thiết để có biện pháp xử trí phù hợp theo từng giai đoạn và tiên lượng trước khả năng có thể ảnh hưởng đến người bệnh, nhất là những biến chứng trầm trọng xảy ra.

Theo dõi các mức độ của SXH tránh biến chứng nguy hiểm.

Theo dõi các mức độ của SXH tránh biến chứng nguy hiểm.

Các mức độ của bệnh
SXH có dấu hiệu cảnh báo gồm các triệu chứng lâm sàng của SXH đã nêu trên và kèm theo các dấu hiệu cảnh báo như vật vã, lừ đừ, li bì. Bệnh nhân có triệu chứng đau bụng vùng gan hoặc ấn đau vùng gan, nôn nhiều, xuất huyết niêm mạc, đi tiểu ít. Nếu người bệnh có những dấu hiệu cảnh báo trên, phải theo dõi sát mạch, huyết áp, số lượng nước tiểu, làm xét nghiệm dung tích hồng cầu, tiểu cầu và có chỉ định truyền dịch kịp thời.

SXH nặng xảy ra khi người bệnh có một trong các biểu hiện thoát huyết tương nặng dẫn đến tình trạng sốc giảm thể tích hay còn gọi là sốc SXH, có ứ dịch ở khoang màng phổi và ổ bụng nhiều; có dấu hiệu xuất huyết nặng và suy tạng.

Sốc SXH có biểu hiện suy tuần hoàn cấp, thường xảy ra vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh với các triệu chứng như vật vã, bứt rứt hoặc li bì; lạnh đầu chi, da lạnh ẩm; mạch nhanh, nhỏ, đi tiểu ít.

Sốc SXH lại được chia làm 2 mức độ để điều trị bù dịch gồm sốc SXH có dấu hiệu như suy tuần hoàn, vật vã, li bì và sốc SXH nặng có dấu hiệu sốc nặng, mạch nhỏ khó bắt, huyết áp không đo được.

Xuất huyết nặng được biểu hiện triệu chứng chảy máu cam nặng nên cần nhét gạc vào vách mũi để cầm máu, bị rong kinh nặng, xuất huyết trong cơ và phần mềm, xuất huyết đường tiêu hóa và nội tạng; thường kèm theo tình trạng sốc nặng, giảm tiểu cầu, thiếu ôxy mô và toan chuyển hóa, có thể dẫn đến suy đa phủ tạng và đông máu nội mạch nặng. Xuất huyết nặng cũng có thể xảy ra ở người bệnh dùng các thuốc kháng viêm như acetylsalicylic acid (aspirin); ibuprofen hoặc dùng thuốc corticoid; bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày, tá tràng, viêm gan mạn tính

Lời khuyên của thầy thuốc
Do SXH chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắc-xin phòng bệnh, biện pháp hữu hiệu nhất là kiểm soát hoạt động của muỗi truyền bệnh như phòng tránh muỗi đốt, diệt muỗi, lăng quăng và bọ gậy. Đồng thời, thường xuyên vệ sinh môi trường, loại bỏ các ổ nước đọng trong nhà và ngoài nhà… không cho muỗi sinh sản và phát triển.

Khi bản thân hoặc gia đình có người bị SXH thì nên đi khám tại các cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị đúng cách. Nếu được chỉ định điều trị tại nhà, cần tuân thủ theo các hướng dẫn của bác sĩ. Khi thấy có dấu hiệu bất thường, cần đến bệnh viện để được xử trí kịp thời.

BS. Nguyễn Thị Trâm

Ngày xuân bàn về hỉ lạc liệu pháp

0

Suckhoedoisong.vn – Tục ngữ có câu: “Tiếu nhất tiếu, thập niên thiếu” (một tiếng cười trẻ mười năm), ý muốn nói: nếu nụ cười luôn nở trên môi thì người ta có thể trẻ ra và sống lâu hơn.

Trong lịch sử của y học cổ truyền phương Đông, tiếng cười đã được các y gia khá coi trọng vì cười là biểu hiện của niềm vui, mà vui (hỉ) là 1 trong 7 loại tình chí có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ và bệnh tật của con người. Cổ nhân gọi là thất tình: hỉ (vui), nộ (giận), ưu (lo), tư (nghĩ), bi (buồn), khủng (sợ), kinh (khiếp). Nội kinh Tố vấn, y cổ thư kinh điển của Đông y trong chương Cử thống luận đã viết: “Nộ tắc khí thượng, hỉ tắc khí hoãn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ, kinh tắc khí loạn, tư tắc khí kết”. Điều đó có nghĩa là khi bình thường, các loại tình chí biến đổi có chừng có mực, thuộc phạm vi sinh lý không ảnh hưởng đến sức khoẻ nhưng nếu bị kích thích quá độ hoặc kéo dài quá lâu thì có thể gây ra các rối loạn chức năng, làm tổn thương tạng phủ, khí huyết, kinh lạc mà phát sinh thành bệnh. Mặt khác, trong quá trình chẩn trị bệnh tật, cổ nhân đã biết vận dụng các loại tình chí có tính đối kháng với nhau để chế ước lẫn nhau nhằm đạt mục đích cuối cùng là tiêu trừ tật bệnh.

Việc sử dụng tiếng cười trong trị liệu có thể phục hồi sức khỏe.

Việc sử dụng tiếng cười trong trị liệu có thể phục hồi sức khỏe.

Tiếng cười là “thần dược” cho sức khoẻ con người
Trong 7 loại tình chí, hỉ thông thường là loại có tác dụng tích cực. Theo quan niệm của cổ nhân, hỉ thông với tạng Tâm, có khả năng làm tăng hoạt động của tâm mạch, giúp cho khí huyết lưu thông dễ dàng và hoà hoãn. Hỉ còn có tác dụng chế ước các loại tình chí dễ gây ra bệnh tật như ưu, tư và bi. Bởi vậy, cổ nhân đã sử dụng “Hỉ lạc liệu pháp” một cách rất linh hoạt trong việc phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho con người. Người xưa cho rằng, muốn có sức khoẻ thì phải biết điều dưỡng tinh thần, nghĩa là tạo ra và giữ được đời sống tinh thần vui vẻ, phải bồi dưỡng tính hài hước để cuộc sống không bao giờ thiếu tiếng cười.
Tiếng cười có thể giúp cho lục phủ ngũ tạng và cơ bắp được thư giãn, tâm trạng được điều tiết và cân bằng, tuần hoàn và hô hấp được thúc đẩy, khí huyết trong kinh mạch được thông sướng… Y thư cổ đã viết: “Hỉ tắc khí hoà chí đạt, dinh vệ thông lợi, khí huyết hoà sướng”. Trương Tử Hoà – y gia trứ danh thời xưa của Trung Quốc cũng nói: “Hỉ khả trị bi, huyết lãng tiết hạp chi ngôn ngu chi”, nghĩa là vui có thể trị được bệnh do buồn gây ra, vậy nên người thầy thuốc phải biết dùng những lời nói đùa vui, những trò giải trí gây cười, những câu chuyện tiếu lâm, những vở kịch dễ gây phấn khích, thậm chí kể cả những lời chẩn bệnh hoang đường để tạo nên niềm hoan lạc trong người bệnh, từ đó mà đạt được tác dụng giải sầu chữa bệnh.

Cũng cần phải thấy rằng, theo quan điểm của Đông y, niềm vui và tiếng cười là rất tốt nhưng cũng không nên thái quá. Bởi lẽ “bạo hỉ thương dương” (vui quá dễ làm tổn thương dương khí), “hỉ khí sở chí, vi tiếu bất hưu, vi mao cách tiêu, vi nhục bệnh, vi dương khí bất thu, thậm tắc vi cuồng” (vui tột cùng, cười không nghỉ dễ làm da khô, cơ bắp bị bệnh, dương khí thương tổn không thu lại được, thậm chí có thể phát cuồng – Lưu Thuần – Ngọc cơ vi nghĩa).

Tiếng cười là một vận động rất có ích cho cơ thể
Khi cười, các bộ phận như cơ hoành lồng ngực, ổ bụng, tim, phổi… đều được rèn luyện, các nội tạng được xoa bóp. Theo tính toán, mỗi một lần cười, cơ hoành vận động khoảng 18 lần, các cơ liên sườn, cơ mặt cũng hoạt động liên tục, vì vậy, cười có tác dụng tăng cường tuần hoàn huyết dịch, cải thiện công năng hô hấp, thúc đẩy quá trình chuyển hóa và kích thích sự bài tiết dịch tiêu hóa, làm tăng cảm giác thèm ăn, nâng cao năng lực hoạt động của dạ dày, trợ giúp cho quá trình phục hồi của dạ dày bị sa do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhiều công trình nghiên cứu hiện đại đã cho thấy khi dùng lời nói khiến người bị bệnh tăng huyết áp bật cười thì chỉ số huyết áp có thể giảm được 20mmHg và làm nhịp tim chậm đi 8 nhịp. Ngoài ra, cười còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc điều tiết hoạt động của não bộ, lập lại sự cân bằng của các trạng thái rối loạn tâm lý. Khi người ta bật cười, vỏ đại não được nghỉ ngơi gấp 3 lần so với khi ngủ. Khi nghiên cứu về tiếng cười, các nhà khoa học Pháp nhận thấy, trong lúc cười, bộ não sẽ sản sinh ra các catecholamin (adrenalin và noradrenalin) và nhiều hormon khác, các chất này có khả năng kích thích quá trình hình thành morphin nội sinh – một chất có tác dụng trấn tĩnh và giảm đau rất tốt, đưa lại sự yên bình cho hệ thống thần kinh trung ương và cơ thể.

Chính vì tác dụng to lớn của tiếng cười mà ở nhiều quốc gia trên thế giới, việc sử dụng tiếng cười trong trị liệu đã được hình thành dưới nhiều hình thức khác nhau như bệnh viện chẩn trị và điều dưỡng bằng nụ cười ở Mỹ, câu lạc bộ cười thư giãn ở Anh, công ty tư vấn nụ cười ở Đức, trường học cười ở Nhật, công ty xuất khẩu tiếng cười ở Brazil, thậm chí còn có cả hình thức cung cấp hoặc tạo ra nụ cười bằng điện thoại, nghĩa là khi cần, bạn có thể nhấc máy và quay số điện thoại chuyên dùng là có thể nghe thấy tiếng cười ngây ngất ở đầu dây kia, nhờ đó, bạn có thể giải trừ được những ưu phiền, mệt mỏi và sức khỏe được phục hồi thực sự.

BS. Hoàng Khánh Hiển

Chú ý phòng viêm phổi mùa lạnh

0

Suckhoedoisong.vn – Viêm phổi ở người cao tuổi (NCT) có thể xảy ra bất cứ mùa nào nhưng mùa lạnh, giá, rét, hanh khô, bệnh thường xảy ra nhiều hơn.

Tại sao dễ mắc?
Mùa lạnh, ẩm ướt, mưa, khô hanh là điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật gây bệnh dễ phát triển, trong đó có các vi sinh vật gây bệnh ở đường hô hấp. Trong khi đó, ở đường hô hấp trên có rất nhiều loại vi khuẩn thường xuyên ký sinh ở đó (phế cầu, não mô cầu, H. influenzae, tụ cầu, liên cầu, vi nấm…), khi sức đề kháng của cơ thể suy giảm vì một lý do nào đó (mắc bệnh nhiễm trùng nào đó, cảm lạnh, dinh dưỡng kém…), chúng sẽ phát triển và gây bệnh, đặc biệt đối với trẻ em bị còi xương, suy dinh dưỡng hoặc NCT, sức yếu, bị tai biến nằm lâu… Thêm vào đó, đa số NCT thường có mắc thêm một số bệnh mãn tính (thoái hóa khớp, tăng huyết áp, đái tháo đường, viêm phế quản mạn tính, hen suyễn, giãn phế quản, viêm họng mũi mạn tính…), các loại bệnh này về mùa lạnh thường tái phát hoặc nặng thêm, càng làm cho sức khỏe NCT suy giảm dễ mắc viêm phổi. Mùa lạnh, rét, NCT nếu mặc không đủ ấm, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, tắm rửa bằng nước lạnh, phòng ngủ có gió lùa và thiếu chăn, đệm càng dễ mắc bệnh viêm phổi. Nếu NCT nghiện thuốc lá, thuốc lào hoặc sống ở vùng có nhiều khói bụi, vệ sinh môi trường kém vào mùa lạnh bệnh viêm phổi càng dễ xuất hiện.

viêm phổi Khi thấy mệt mỏi, tức ngực, sốt nhẹ, ho cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt

Triệu chứng
NCT do sức đề kháng đã suy giảm, nhất là người mắc các bệnh mạn tính kèo dài, tai biến mạch máu não cho nên khi bị mắc bệnh nhiễm trùng, trong đó có bệnh viêm phổi, có một số đặc điểm cần lưu ý. Viêm phổi NCT có một số đặc điểm khác với viêm phổi ở người trẻ tuổi, trẻ em. Viêm phổi ở NCT ít khi có khởi phát đột ngột, rầm rộ, bệnh thường âm ỉ, không có biểu hiện rõ ràng, các triệu chứng không thật sự điển hình. Vì vậy, sốt thường không cao (khoảng 37,30 – 38,00C), đặc biệt có những trường hợp NCT viêm phổi nhưng không sốt (suy dinh dưỡng, suy kiệt, nằm lâu…). Đa số các trường hợp là sốt, có kèm theo rét run (khoảng 30%), đau tức ngực và ho. Người bệnh thấy lạnh, rét phải mặc thêm áo, đắp chăn, sợ gió lùa. Ho, lúc đầu ho khan, vài ngày sau ho có đờm màu xanh, vàng hoặc đục hoặc đôi khi có ít máu (do khi khạc đờm áp lực mạnh làm vỡ một số mao mạch ở họng gây chảy một ít máu). Tuy vậy, ho thường yếu, thỉnh thoảng mới ho, tiếng ho không mạnh và ho từng tiếng hoặc cơn ho ngắn. Kèm theo ho thường có cảm giác tức ngực hoặc đau ngực. Người bệnh thở gấp, nhanh kèm theo có tiếng khò khè và có thể khó thở. Khó thở có thể xảy ra ngay khi gắng sức, khi ho và có thể cả khi nghỉ ngơi.

Để chẩn đoán viêm phổi ngoài các dấu hiệu lâm sàng, tiền sử của bệnh (có mắc các bệnh mạn tính gì hay không, nhất là các bệnh về đường hô hấp như: viêm họng mạn tính, hen suyễn, giãn phế quản, tâm phế mạn…), cần chụp X-quang phổi, trong trường hợp cần thiết có thể chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc tốt hơn là chụp cộng hưởng từ (MRI). Ngoài ra, nên xét nghiệm công thức máu, tốc độ máu lắng, xét nghiệm đờm, nhầy họng để xác định vi khuẩn, vi nấm và thực hiện kỹ thuật kháng sinh đồ nhằm giúp bác sĩ điều trị tham khảo trong việc lựa chọn kháng sinh thích hợp để điều trị.
viêm phổiLúc đầu ho khan, vài ngày sau ho có đờm màu xanh, vàng hoặc đục

Nguyên tắc điều trị và phòng bệnh
Do sức đề kháng của người cao tuổi đã suy giảm nên sự thể hiện của bệnh viêm phổi đôi khi không điển hình. Vì vậy, khi thấy mệt mỏi, tức ngực, sốt nhẹ, ho cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt để được xác định bệnh, trên cơ sở đó sẽ được điều trị kịp thời.

viêm phổiViệc tắm, rửa cần có nước ấm

Về phòng bệnh, NCT cần tránh lạnh đột ngột cho nên hàng ngày việc tắm, rửa cần có nước ấm, tắm ở buồng kín gió, tắm xong cần lau khô người, đầu tóc, mặc quần áo ngay và không nên tắm lâu. Nếu NCT sức yếu không tự tắm được, hoặc tinh thần không minh mẫn nên có sự hỗ trợ của người nhà, người giúp việc. Hàng ngày NCT cần vệ sinh sạch sẽ họng miệng bằng hình thức đánh răng, súc họng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy. NCT có hàm răng giả, cần vệ sinh hàng tuần hoặc vài ba ngày một lần. Vào mùa lạnh, mưa rét nên hạn chế đi ra đường, nếu công việc không thể trì hoãn, cần thiết mặc ấm, chân tay cần có tất, cổ quàng khăn ấm, đầu đội mũ ấm và đeo khẩu trang. Đồng thời nên có chế độ dinh dưỡng hợp lý để tăng sức đề kháng và không nên hút thuốc. Nên vận động cơ thể hàng ngày bằng các động tác tập thể dục buổi sáng và tập hít thở đều (hít sâu, thở ra từ từ).

PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU

Biện pháp làm chậm lão hóa

0

Suckhoedoisong.vn – Sinh, lão, bệnh, tử là quy luật của con người. Vì vậy, lão hóa là một điều tất yếu trong vòng đời của mỗi chúng ta, bởi vì tế bào cũng như cuộc đời, được sinh ra phát triển, trưởng thành với các chức năng sinh học để rồi tế bào cũng “lão suy” và chết theo quy trình đã định sẵn mà y học gọi là cái chết của tế bào (hay apoptosis).

Quá trình lão hóa diễn ra nhanh, chậm rất khác nhau, phụ thuộc vào những yếu tố bên trong như gene, các hormon (nội tiết tố) và tuổi tác cũng như các yếu tố bên ngoài như môi trường, công việc, gia đình…

Những yếu tố khiến cơ thể nhanh lão hóa
Ngoài những tác động áp lực của sự mưu sinh cuộc sống, lao động, lo toan cho gia đình, cơm áo gạo tiền mà hầu như bất kỳ một cá nhân nào cũng phải đối mặt thì những thói quen, nếp sống trong sinh hoạt hàng ngày đã tác động không nhỏ và đó là những nguyên nhân chung gây ra hiện tượng lão hóa sớm cho cả hai giới nam và nữ.

Thói quen ngồi một chỗ và lười vận động không chỉ có hại cho sức khỏe, giãn tĩnh mạch hai chi dưới, bị trĩ mà còn khiến da bị lão hóa sớm. Lo lắng và căng thẳng tạo ra nhiều nếp nhăn trên trán và lâu dần sẽ hình thành những nếp nhăn cố định, khiến khuôn mặt trông như “già trước tuổi”. Bên cạnh đó, mất ngủ gây thiếu ngủ, ngủ không đủ giấc có thể làm mất cân bằng hormon dẫn đến tình trạng gia tăng lượng cortisol, mất cân bằng oxy hóa. Bên cạnh các yếu tố chung, mỗi giới nam và nữ còn có những yếu tố riêng mang đặc trưng giới tính gây ra hiện tượng lão hóa sớm.

Đối với nữ giới thì vấn đề sinh nở, cường độ làm việc cao (cả việc nhà và việc cơ quan), mặc cảm, thiếu tự tin (không dám làm đẹp cho mình), dễ dãi với bản thân hay chăm sóc bản thân không đúng cách… là những yếu tố thúc đẩy quá trình lão hóa sớm. Bên cạnh đó, sự suy giảm estrogen, nội tiết tố nữ, bắt đầu từ tuổi 35 và suy giảm nhanh chóng sau tuổi 40 càng khiến cơ thể nhanh lão hóa với biểu hiện khô, nám da, da nhăn nheo, kém tươi tắn.
Biện pháp làm chậm lão hóaTập luyện thường xuyên là một cách làm chậm lão hóa.

Đối với nam giới việc suy giảm nội tiết tố nam testosteron, đặc biệt sau tuổi 40, do căng thẳng thường diễn ra một cách từ từ nên không được chú ý đúng mức không chỉ gây cho nam giới nhiều phiền toái về sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến hình dáng như rụng tóc, béo phì…

Biện pháp làm chậm lão hóa
Lão hóa là hiện tượng tự nhiên không thể nào tránh khỏi. Không có loại thuốc nào giúp kéo dài sự sống nhưng ta có thể sống một cuộc sống khỏe mạnh hạnh phúc lúc tuổi già. Nghĩa là ta có thể làm chậm hay giảm thiểu được những hậu quả không mong muốn của quá trình lão hóa, vẫn có thể duy trì được sức khỏe về thể chất lẫn tinh thần, giữ được tính năng động và độc lập trong cuộc sống. Muốn đạt được điều này cần nỗ lực thực hiện những yêu cầu sau:

Kiểm tra sức khỏe định kỳ: Nhờ khám sức khỏe định kỳ bạn có thể phát hiện sớm trước khi bệnh trở nặng. Hãy luôn chú ý đến những bất thường của cơ thể ngay từ khi mới phát hiện và trao đổi với bác sĩ là cách tốt nhất để giữ gìn sức khỏe. Thận trọng khi dùng thuốc chữa bệnh, tốt nhất là chỉ dùng khi có ý kiến của bác sĩ hay dược sĩ.

Dinh dưỡng tốt: Khẩu phần cân đối, ăn nhiều rau quả, chất xơ, không ăn mỡ bão hòa, hạn chế thức ăn thức uống có đường, không ăn vặt. Càng lớn tuổi càng phải giảm bớt lượng calo đưa vào cơ thể. Nên hỏi ý kiến bác sĩ có nên dùng thêm vitamin bổ sung hoặc các loại thực phẩm chúc năng. Hạn chế rượu bia, uống nhiều nước.

Rèn luyện thể chất và tinh thần: Tập luyện đều đặn, một ngày ít nhất 30 phút. Hãy chọn bất cứ môn nào bạn thích: đi bộ, chạy, đạp xe, tập yoga, chơi thể thao, khiêu vũ… Nếu có bệnh, cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi tập môn gì. Đều đặn tập luyện mỗi ngày có thể làm cho người ta trẻ lại 10-15 tuổi.

Đọc sách, chơi cờ, chơi ô chữ, học một môn học mới rất tốt để giữ tinh thần khỏe mạnh. Ngay cả khi tuổi đã già cũng không nên ngưng học vì sử dụng bộ não là bạn cải thiện sức khỏe cho tinh thần.

Thái độ sống tích cực lạc quan sẽ giúp bạn kéo dài tuổi thọ, khỏe mạnh và hạnh phúc hơn. Tiếng cười là phương thuốc tốt nhất giúp giảm stress và làm cho người ta trẻ lại, vì vậy đừng để một ngày qua đi mà không có nụ cười. Cần phải linh hoạt và chấp nhận những thay đổi bởi vì đó là điều tất yếu của cuộc sống. Gạt bỏ đi những tư tưởng bi quan tiêu cực vì chúng cũng nguy hại như độc chất làm hủy hoại sức khỏe của bạn. Đời người là một cuộc hành trình, còn biết bao điều thú vị ta chưa khám phá. Hãy tận hưởng cuộc sống.

TS. BS. Nguyễn Hữu Hạnh

Ăn cá có lợi cho sức khỏe

0

Cá là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng và chữa được nhiều bệnh.Cá có nguồn đạm quý với đủ các acid amin cần thiết, trong đó hàm lượng lysin, tirozin, tryptophan, systin, methionin cao hơn thịt. Chất đạm của cá tươi lại dễ tiêu hóa, dễ hấp thu hơn so với thịt.

Cá là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng và chữa được nhiều bệnh.Cá có nguồn đạm quý với đủ các acid amin cần thiết, trong đó hàm lượng lysin, tirozin, tryptophan, systin, methionin cao hơn thịt. Chất đạm của cá tươi lại dễ tiêu hóa, dễ hấp thu hơn so với thịt.
Loại thực phẩm ít chất béo và giàu axít omega – 3

Mọi người đều biết, ăn nhiều thực phẩm giàu chất béo như mỡ động vật không có lợi cho sức khỏe. Trong cá có chứa rất ít chất béo dạng này, đồng thời lại có nhiều axít béo omega – 3, là thành phần đặc biệt cần thiết đối với quá trình phát triển não bộ ở con người, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền nhận tín hiệu giữa các tế bào. Thành phần chủ yếu trong omega – 3 là DHA cũng chính là thành phần quan trọng thúc đẩy hình thành chất xám trong não và giúp cho trẻ nhỏ phát triển trí thông minh. Axít omega – 3 chứa rất nhiều trong cá và một số loại hải sản khác như tôm, sò…

Cá chứa nhiều axít béo omega-3. Ảnh: TL
Giàu protein, vitamin và khoáng chất

Các loại thịt động vật như lợn, bò… chứa rất nhiều protein, song nếu ăn nhiều lại không tốt cho sức khỏe, có thể gây ra chứng thừa đạm, béo phì, tiểu đường… Ngược lại, bạn có thể ăn cá thoải mái mà không phải lo nghĩ gì. Protein của cá rất dễ hấp thụ, tốt cho hệ tiêu hóa và tim mạch. Trong cá cũng có chứa rất nhiều vitamin thiết yếu như vitamin A, D, phốt pho, magiê, kẽm, và iốt… Đặc biệt canxi có chứa trong một số loại cá như cá hồi còn góp phần giúp cho xương chắc khỏe.

Dầu cá tốt cho quá trình phát triển của trẻ nhỏ

DHA có trong dầu cá chính là nguyên nhân tạo nên tác động có lợi này. DHA giúp trẻ mới sinh phát triển thông minh và sáng mắt, đồng thời hoàn thiện quá trình phát triển chức năng não bộ. Phụ nữ khi mang thai hấp thụ được nhiều axít omega – 3 trong cá biển sẽ sinh ra con khỏe mạnh, thông minh hơn nhiều so với bình thường. Đó là kết quả nghiên cứu mà các nhà khoa học thuộc nhiều quốc gia trên thế giới đã chứng minh.

Ăn nhiều cá giúp làm giảm nguy cơ đột quị, bệnh tim mạch

Theo kết quả nghiên cứu của Đại học tổng hợp Harvard – Mỹ, việc ăn cá đều đặn hàng tuần sẽ giúp cung cấp lượng omega – 3 cần thiết để ngăn chặn nguy cơ mắc bệnh tim. Ngoài ra, omega – 3 còn giúp giảm nồng độ triglyceride trong máu và giảm hiện tượng máu bị vón cục dẫn tới tắc nghẽn mạch máu.

Vì vậy, cá là một loại thực phẩm rất tốt, đặc biệt với người già và trẻ nhỏ. Bởi chất EPA có trong axit béo không no (có rất nhiều ở các giống cá lưng xanh) có thể phòng chống được bệnh xơ vữa động mạch và nhồi máu cơ tim. Còn chất DHA cũng có trong axit béo không no của cá và có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của tế bào não và hệ thần kinh. Thiếu chất này con người sẽ giảm trí nhớ, kém thông minh. Trẻ em cần DHA để phát triển tế bào não. Người cao tuổi cần DHA để làm chậm lão hóa bộ não, tránh lú lẫn lúc về già.

Trong cá, hàm lượng DHA tập trung nhiều hơn ở đầu cá. Vì vậy, bạn không nên rán cá, nhất là ở nhiệt độ cao sẽ làm chất DHA bị phân hủy mà nên ăn cá luộc hoặc cá nấu để tận dụng hàm lượng DHA có trong đầu cá.

BS. Nguyễn Thùy Hương

Dễ chẩn đoán nhầm, vì sao?

0

Viêm loét đại trực tràng chảy máu thường xảy ra ở người trẻ nhưng chưa xác định được rõ ràng căn nguyên của bệnh nên việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn.

Viêm loét đại trực tràng chảy máu thường xảy ra ở người trẻ nhưng chưa xác định được rõ ràng căn nguyên của bệnh nên việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, bệnh còn cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh đường tiêu hóa khác như bệnh Crohn, viêm đại tràng mạn tính do nhiễm khuẩn và ký sinh trùng, viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ hay do tia xạ… và để lại nhiều biến chứng như áp-xe hậu môn, hẹp đại tràng, ung thư hóa…

Bệnh Crohn dễ chẩn đoán nhầm với viêm loét đại trực tràng chảy máu.
Mỗi thể bệnh có những biểu hiện

khác nhau

Nổi bật và thường gặp nhất trong viêm loét đại trực tràng chảy máu là đau bụng và tiêu chảy phân máu, kèm theo sốt và sút cân. Tùy từng giai đoạn mà có các biểu hiện khác nhau, thông thường người ta chia làm 3 thể:

Thể nhẹ: là thể thường gặp chiếm trên 60% trường hợp, triệu chứng đại tiện nhầy máu chỉ kéo dài dưới 4 ngày, không có thay đổi thể trạng, không có thiếu máu hoặc giảm protein máu. Bệnh thường chỉ khu trú ở trực tràng hoặc đại tràng sigma, hiếm khi có tổn thương cao hơn ở phía trên. Các biểu hiện ngoài ruột là rất hiếm. Thể này cũng có thể diễn tiến thành thể nặng hơn.

Thể trung bình: chiếm khoảng 25% trường hợp, các đợt tiêu chảy thường khởi đầu bằng đau quặn bụng, rồi đại tiện phân máu, có thể xảy ra vào ban đêm nhưng số lần đại tiện thường dưới 6 lần/ngày. Thường kèm theo sốt, giảm protein máu, làm bệnh nhân mệt mỏi. Tiên lượng trong thể này kém hơn.

Thể nặng hoặc thể sét đánh: chiếm khoảng 15% trường hợp, số lần đại tiện phân máu hơn 6 lần/ngày và thường xảy ra về ban đêm. Thường có cảm giác đau rát, buốt hậu môn và mót rặn. Tổng trạng suy sụp với nhịp tim nhanh, huyết áp hạ, sốt cao, bụng trướng. Nếu không được điều trị thì tiến triển rất nặng đưa đến tử vong do xuất huyết trầm trọng hoặc giãn đại tràng nhiễm độc.

Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng lâm sàng và các biểu hiện đặc trưng khi nội soi đại trực tràng kết hợp với sinh thiết. Khi soi đại trực tràng cần cẩn thận không nên bơm hơi nhiều vì có thể gây thủng ruột.

Biến chứng có thể xảy ra

Các biến chứng nhẹ của ruột là giả polýp, chỉ xảy ra trong 20% trường hợp, các biến chứng ít gặp hơn là nứt hậu môn, rò và áp-xe hậu môn.

Các biến chứng nặng của ruột là chảy máu trầm trọng, hẹp đại tràng, phình đại tràng nhiễm độc, thủng và có thể đưa đến ung thư. Một số biến chứng khác như viêm đường mật, viêm khớp, hồng ban nút, viêm da mủ hoại thư, viêm xơ đường mật tiên phát, viêm thận bể thận và sỏi, trong đợt cấp nặng của viêm loét đại trực tràng chảy máu lan rộng có thể có biến chứng đông máu rải rác nội mạch.

Viêm loét đại trực tràng chảy máu có thể gây biến chứng viêm thận bể thận.
Điều trị bệnh cần kết hợp dùng thuốc và chế độ sinh hoạt hợp lý

Thông thường, trong viêm loét đại trực tràng chảy máu, các thuốc thường được dùng phối hợp là corticoid, sulfasalazin và các dẫn chất của nó, azathioprin, cyclosporin. Tuy nhiên, tùy theo tình trạng, giai đoạn của bệnh, tổng trạng của bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định dùng thuốc cụ thể. Ngoài việc sử dụng thuốc cũng cần chú ý đến chế độ ăn uống và sinh hoạt của bệnh nhân, động viên bệnh nhân bằng các liệu pháp tâm lý, trong trường hợp thiếu hụt men lactase thì không cho bệnh nhân dùng sữa, trong đợt tiến triển khẩu phần ăn cần hạn chế chất xơ.

Không dùng các chế phẩm của thuốc phiện, thuốc chống tiêu chảy và thuốc kháng cholin vì có thể gây ra phình đại tràng, đặc biệt trong trường hợp có biến chứng phình đại tràng nhiễm độc, bệnh nhân phải được theo dõi và điều trị trong trung tâm hồi sức tích cực. Viêm loét đại trực tràng chảy máu cần được theo dõi thường xuyên 6 tháng 1 lần bằng soi đại tràng và sinh thiết đại tràng và đại tràng sigma để kịp thời phát hiện giai đoạn loạn sản nặng hoặc là giai đoạn đầu của tiến triển ung thư.

Viêm đại tràng dễ chẩn đoán nhầmvới các bệnh nào?

– Viêm đại tràng mạn do nhiễm khuẩn và ký sinh trùng: thường gặp nhất là do Chlamydia, herpes và amíp, lao ruột, lỵ trực khuẩn, viêm đại tràng giả mạc do Clostridium diffcile.

– Bệnh Crohn: đây là loại bệnh có cơ chế bệnh sinh và hình thái lâm sàng rất gần với viêm loét đại trực tràng chảy máu, chẩn đoán phân biệt cần dựa vào nội soi với hình ảnh tổn thương khu trú hay nhảy cóc, nhất là sinh thiết với sự hiện diện của tế bào biểu mô khổng lồ.

– Bệnh viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ: bệnh thường xảy ra ở người cao tuổi có dấu hiệu xơ vữa động mạch. Lâm sàng có dấu hiệu thiếu máu ruột sau khi ăn. Xác định bằng chụp nhuộm động mạch mạc treo thấy hình ảnh teo hẹp.

– Viêm đại tràng do tia xạ: tiền sử bệnh nhân có chiếu tia xạ vùng bụng nhất là hạ vị.

ThS.BS. Nguyễn Bạch Đằng

Cẩn trọng khi ăn chay

0

Ăn chay giúp thanh lọc cơ thể. Tuy nhiên, nhiều người ăn chay trường vẫn có thể mắc các bệnh mãn tính như huyết áp, tiểu đường, tim mạch, rối loạn lipid máu…

Ăn chay giúp thanh lọc cơ thể. Tuy nhiên, nhiều người ăn chay trường vẫn có thể mắc các bệnh mãn tính như huyết áp, tiểu đường, tim mạch, rối loạn lipid máu…

So với chế độ dinh dưỡng thông thường, ăn chay có nhiều ưu điểm: chất đạm dễ tiêu hóa, ít gây dị ứng, lượng chất đạm vừa phải giúp giảm nguy cơ bệnh thống phong, giảm thải canxi qua đường thận, giảm nguy cơ sa sút trí tuệ lúc tuổi già; chất béo có nhiều acid béo không no và hoàn toàn không có cholesterol, có lợi cho tim mạch; dồi dào vitamin, khoáng chất, chất xơ, phytochemical từ rau trái giúp bảo vệ cơ thể, duy trì tuổi xuân, phòng chống ung thư…

Ăn chay cũng có thể gây một số bất lợi cho sức khỏe.
Dù vậy, ăn chay cũng có thể gây một số bất lợi cho sức khỏe. Chất đạm trong các thức ăn thực vật không đủ acid amin thiết yếu; chất béo tuy không có cholesterol nhưng có các acid béo no, nhất là trong nước cốt dừa và các dạng bơ thực vật như margarine, shortening… không tốt cho tim mạch. Trong rau củ cũng có nhiều chất gây cản trở sự hấp thu các chất dinh dưỡng khác. Những người ăn chay trường thường dễ bị thiếu máu, loãng xương, giảm đề kháng… do thiếu các vi chất dinh dưỡng như acid folic, sắt, vitamin B12, kẽm, canxi…

Vì vậy, ăn chay chỉ có thể trở thành một cách ăn kiêng có lợi cho sức khỏe khi loại bỏ được các yếu tố nguy cơ nói trên. Nên chọn cách ăn chay kèm sữa, trứng và lưu ý kết hợp các thành phần trong bữa ăn.

Để cân đối chất đạm, nên trộn thêm các loại đậu vào gạo dùng nấu cơm hay cháo, hoặc ăn cơm với mè, đậu phộng, uống thêm một ly bột ngũ cốc sau bữa cơm.

Hạn chế tối đa nước cốt dừa và các loại chất béo đông đặc. Tránh chiên xào các loại thực phẩm trong dầu trước khi kho nấu để tránh làm tăng lượng chất béo trong khẩu phần.

Những món ăn lên men như tương, chao, cải muối, dưa cải, cà… có hàm lượng muối rất cao, chỉ nên dùng hạn chế và nên loại khỏi danh sách thực phẩm của những người cao tuổi có bệnh huyết áp, tim mạch, bệnh thận hay tiểu đường.

Chế biến qua nhiều công đoạn sẽ làm mất các vitamin dễ phân hủy như vitamin B2, B3, B6, B9, C… Vì vậy, nên chế biến thức ăn đơn giản nhất có thể: canh rau, đậu hũ kho hay chiên, xào thập cẩm… Dưỡng chất sẽ được bảo quản tốt nhất và không sinh thêm các thành phần có hại cho sức khỏe.

Với những người ăn chay trường, có thể sử dụng thêm vi chất dinh dưỡng dưới dạng thuốc bổ.

Với những người trẻ và khỏe mạnh, chỉ ăn chay một hai ngày trong tuần để thay đổi khẩu vị. Khi ăn chay trên một tuần hoặc muốn áp dụng ăn chay để phòng trị bệnh, thì bắt buộc phải quan tâm đến việc cân đối bữa ăn để đảm bảo một chế độ ăn phù hợp nhất cho sức khỏe. Nhìn từ góc độ dinh dưỡng, nếu khéo léo cân đối các thành phần dưỡng chất qua việc lựa chọn và chế biến thực phẩm thích hợp, thì chế độ ăn chay không liên tục (một ngày mỗi tuần, một tuần mỗi tháng hoặc ba tháng mỗi năm) thật sự là một chế độ ăn kiêng giúp bảo vệ sức khỏe và chất lượng cuộc sống.

Theo PNO

MOST COMMENTED

Tôi mặc cảm vì bản thân quá xấu

Người bạn thân thiết của tôi không ai khác ngoài chiếc khẩu trang. Chỉ về nhà tôi mới dám bỏ khẩu trang và sống...