Blog

Ngày xuân bàn về hỉ lạc liệu pháp

0

Suckhoedoisong.vn – Tục ngữ có câu: “Tiếu nhất tiếu, thập niên thiếu” (một tiếng cười trẻ mười năm), ý muốn nói: nếu nụ cười luôn nở trên môi thì người ta có thể trẻ ra và sống lâu hơn.

Trong lịch sử của y học cổ truyền phương Đông, tiếng cười đã được các y gia khá coi trọng vì cười là biểu hiện của niềm vui, mà vui (hỉ) là 1 trong 7 loại tình chí có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ và bệnh tật của con người. Cổ nhân gọi là thất tình: hỉ (vui), nộ (giận), ưu (lo), tư (nghĩ), bi (buồn), khủng (sợ), kinh (khiếp). Nội kinh Tố vấn, y cổ thư kinh điển của Đông y trong chương Cử thống luận đã viết: “Nộ tắc khí thượng, hỉ tắc khí hoãn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ, kinh tắc khí loạn, tư tắc khí kết”. Điều đó có nghĩa là khi bình thường, các loại tình chí biến đổi có chừng có mực, thuộc phạm vi sinh lý không ảnh hưởng đến sức khoẻ nhưng nếu bị kích thích quá độ hoặc kéo dài quá lâu thì có thể gây ra các rối loạn chức năng, làm tổn thương tạng phủ, khí huyết, kinh lạc mà phát sinh thành bệnh. Mặt khác, trong quá trình chẩn trị bệnh tật, cổ nhân đã biết vận dụng các loại tình chí có tính đối kháng với nhau để chế ước lẫn nhau nhằm đạt mục đích cuối cùng là tiêu trừ tật bệnh.

Việc sử dụng tiếng cười trong trị liệu có thể phục hồi sức khỏe.

Việc sử dụng tiếng cười trong trị liệu có thể phục hồi sức khỏe.

Tiếng cười là “thần dược” cho sức khoẻ con người
Trong 7 loại tình chí, hỉ thông thường là loại có tác dụng tích cực. Theo quan niệm của cổ nhân, hỉ thông với tạng Tâm, có khả năng làm tăng hoạt động của tâm mạch, giúp cho khí huyết lưu thông dễ dàng và hoà hoãn. Hỉ còn có tác dụng chế ước các loại tình chí dễ gây ra bệnh tật như ưu, tư và bi. Bởi vậy, cổ nhân đã sử dụng “Hỉ lạc liệu pháp” một cách rất linh hoạt trong việc phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho con người. Người xưa cho rằng, muốn có sức khoẻ thì phải biết điều dưỡng tinh thần, nghĩa là tạo ra và giữ được đời sống tinh thần vui vẻ, phải bồi dưỡng tính hài hước để cuộc sống không bao giờ thiếu tiếng cười.
Tiếng cười có thể giúp cho lục phủ ngũ tạng và cơ bắp được thư giãn, tâm trạng được điều tiết và cân bằng, tuần hoàn và hô hấp được thúc đẩy, khí huyết trong kinh mạch được thông sướng… Y thư cổ đã viết: “Hỉ tắc khí hoà chí đạt, dinh vệ thông lợi, khí huyết hoà sướng”. Trương Tử Hoà – y gia trứ danh thời xưa của Trung Quốc cũng nói: “Hỉ khả trị bi, huyết lãng tiết hạp chi ngôn ngu chi”, nghĩa là vui có thể trị được bệnh do buồn gây ra, vậy nên người thầy thuốc phải biết dùng những lời nói đùa vui, những trò giải trí gây cười, những câu chuyện tiếu lâm, những vở kịch dễ gây phấn khích, thậm chí kể cả những lời chẩn bệnh hoang đường để tạo nên niềm hoan lạc trong người bệnh, từ đó mà đạt được tác dụng giải sầu chữa bệnh.

Cũng cần phải thấy rằng, theo quan điểm của Đông y, niềm vui và tiếng cười là rất tốt nhưng cũng không nên thái quá. Bởi lẽ “bạo hỉ thương dương” (vui quá dễ làm tổn thương dương khí), “hỉ khí sở chí, vi tiếu bất hưu, vi mao cách tiêu, vi nhục bệnh, vi dương khí bất thu, thậm tắc vi cuồng” (vui tột cùng, cười không nghỉ dễ làm da khô, cơ bắp bị bệnh, dương khí thương tổn không thu lại được, thậm chí có thể phát cuồng – Lưu Thuần – Ngọc cơ vi nghĩa).

Tiếng cười là một vận động rất có ích cho cơ thể
Khi cười, các bộ phận như cơ hoành lồng ngực, ổ bụng, tim, phổi… đều được rèn luyện, các nội tạng được xoa bóp. Theo tính toán, mỗi một lần cười, cơ hoành vận động khoảng 18 lần, các cơ liên sườn, cơ mặt cũng hoạt động liên tục, vì vậy, cười có tác dụng tăng cường tuần hoàn huyết dịch, cải thiện công năng hô hấp, thúc đẩy quá trình chuyển hóa và kích thích sự bài tiết dịch tiêu hóa, làm tăng cảm giác thèm ăn, nâng cao năng lực hoạt động của dạ dày, trợ giúp cho quá trình phục hồi của dạ dày bị sa do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhiều công trình nghiên cứu hiện đại đã cho thấy khi dùng lời nói khiến người bị bệnh tăng huyết áp bật cười thì chỉ số huyết áp có thể giảm được 20mmHg và làm nhịp tim chậm đi 8 nhịp. Ngoài ra, cười còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc điều tiết hoạt động của não bộ, lập lại sự cân bằng của các trạng thái rối loạn tâm lý. Khi người ta bật cười, vỏ đại não được nghỉ ngơi gấp 3 lần so với khi ngủ. Khi nghiên cứu về tiếng cười, các nhà khoa học Pháp nhận thấy, trong lúc cười, bộ não sẽ sản sinh ra các catecholamin (adrenalin và noradrenalin) và nhiều hormon khác, các chất này có khả năng kích thích quá trình hình thành morphin nội sinh – một chất có tác dụng trấn tĩnh và giảm đau rất tốt, đưa lại sự yên bình cho hệ thống thần kinh trung ương và cơ thể.

Chính vì tác dụng to lớn của tiếng cười mà ở nhiều quốc gia trên thế giới, việc sử dụng tiếng cười trong trị liệu đã được hình thành dưới nhiều hình thức khác nhau như bệnh viện chẩn trị và điều dưỡng bằng nụ cười ở Mỹ, câu lạc bộ cười thư giãn ở Anh, công ty tư vấn nụ cười ở Đức, trường học cười ở Nhật, công ty xuất khẩu tiếng cười ở Brazil, thậm chí còn có cả hình thức cung cấp hoặc tạo ra nụ cười bằng điện thoại, nghĩa là khi cần, bạn có thể nhấc máy và quay số điện thoại chuyên dùng là có thể nghe thấy tiếng cười ngây ngất ở đầu dây kia, nhờ đó, bạn có thể giải trừ được những ưu phiền, mệt mỏi và sức khỏe được phục hồi thực sự.

BS. Hoàng Khánh Hiển

Chú ý phòng viêm phổi mùa lạnh

0

Suckhoedoisong.vn – Viêm phổi ở người cao tuổi (NCT) có thể xảy ra bất cứ mùa nào nhưng mùa lạnh, giá, rét, hanh khô, bệnh thường xảy ra nhiều hơn.

Tại sao dễ mắc?
Mùa lạnh, ẩm ướt, mưa, khô hanh là điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật gây bệnh dễ phát triển, trong đó có các vi sinh vật gây bệnh ở đường hô hấp. Trong khi đó, ở đường hô hấp trên có rất nhiều loại vi khuẩn thường xuyên ký sinh ở đó (phế cầu, não mô cầu, H. influenzae, tụ cầu, liên cầu, vi nấm…), khi sức đề kháng của cơ thể suy giảm vì một lý do nào đó (mắc bệnh nhiễm trùng nào đó, cảm lạnh, dinh dưỡng kém…), chúng sẽ phát triển và gây bệnh, đặc biệt đối với trẻ em bị còi xương, suy dinh dưỡng hoặc NCT, sức yếu, bị tai biến nằm lâu… Thêm vào đó, đa số NCT thường có mắc thêm một số bệnh mãn tính (thoái hóa khớp, tăng huyết áp, đái tháo đường, viêm phế quản mạn tính, hen suyễn, giãn phế quản, viêm họng mũi mạn tính…), các loại bệnh này về mùa lạnh thường tái phát hoặc nặng thêm, càng làm cho sức khỏe NCT suy giảm dễ mắc viêm phổi. Mùa lạnh, rét, NCT nếu mặc không đủ ấm, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, tắm rửa bằng nước lạnh, phòng ngủ có gió lùa và thiếu chăn, đệm càng dễ mắc bệnh viêm phổi. Nếu NCT nghiện thuốc lá, thuốc lào hoặc sống ở vùng có nhiều khói bụi, vệ sinh môi trường kém vào mùa lạnh bệnh viêm phổi càng dễ xuất hiện.

viêm phổi Khi thấy mệt mỏi, tức ngực, sốt nhẹ, ho cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt

Triệu chứng
NCT do sức đề kháng đã suy giảm, nhất là người mắc các bệnh mạn tính kèo dài, tai biến mạch máu não cho nên khi bị mắc bệnh nhiễm trùng, trong đó có bệnh viêm phổi, có một số đặc điểm cần lưu ý. Viêm phổi NCT có một số đặc điểm khác với viêm phổi ở người trẻ tuổi, trẻ em. Viêm phổi ở NCT ít khi có khởi phát đột ngột, rầm rộ, bệnh thường âm ỉ, không có biểu hiện rõ ràng, các triệu chứng không thật sự điển hình. Vì vậy, sốt thường không cao (khoảng 37,30 – 38,00C), đặc biệt có những trường hợp NCT viêm phổi nhưng không sốt (suy dinh dưỡng, suy kiệt, nằm lâu…). Đa số các trường hợp là sốt, có kèm theo rét run (khoảng 30%), đau tức ngực và ho. Người bệnh thấy lạnh, rét phải mặc thêm áo, đắp chăn, sợ gió lùa. Ho, lúc đầu ho khan, vài ngày sau ho có đờm màu xanh, vàng hoặc đục hoặc đôi khi có ít máu (do khi khạc đờm áp lực mạnh làm vỡ một số mao mạch ở họng gây chảy một ít máu). Tuy vậy, ho thường yếu, thỉnh thoảng mới ho, tiếng ho không mạnh và ho từng tiếng hoặc cơn ho ngắn. Kèm theo ho thường có cảm giác tức ngực hoặc đau ngực. Người bệnh thở gấp, nhanh kèm theo có tiếng khò khè và có thể khó thở. Khó thở có thể xảy ra ngay khi gắng sức, khi ho và có thể cả khi nghỉ ngơi.

Để chẩn đoán viêm phổi ngoài các dấu hiệu lâm sàng, tiền sử của bệnh (có mắc các bệnh mạn tính gì hay không, nhất là các bệnh về đường hô hấp như: viêm họng mạn tính, hen suyễn, giãn phế quản, tâm phế mạn…), cần chụp X-quang phổi, trong trường hợp cần thiết có thể chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc tốt hơn là chụp cộng hưởng từ (MRI). Ngoài ra, nên xét nghiệm công thức máu, tốc độ máu lắng, xét nghiệm đờm, nhầy họng để xác định vi khuẩn, vi nấm và thực hiện kỹ thuật kháng sinh đồ nhằm giúp bác sĩ điều trị tham khảo trong việc lựa chọn kháng sinh thích hợp để điều trị.
viêm phổiLúc đầu ho khan, vài ngày sau ho có đờm màu xanh, vàng hoặc đục

Nguyên tắc điều trị và phòng bệnh
Do sức đề kháng của người cao tuổi đã suy giảm nên sự thể hiện của bệnh viêm phổi đôi khi không điển hình. Vì vậy, khi thấy mệt mỏi, tức ngực, sốt nhẹ, ho cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt để được xác định bệnh, trên cơ sở đó sẽ được điều trị kịp thời.

viêm phổiViệc tắm, rửa cần có nước ấm

Về phòng bệnh, NCT cần tránh lạnh đột ngột cho nên hàng ngày việc tắm, rửa cần có nước ấm, tắm ở buồng kín gió, tắm xong cần lau khô người, đầu tóc, mặc quần áo ngay và không nên tắm lâu. Nếu NCT sức yếu không tự tắm được, hoặc tinh thần không minh mẫn nên có sự hỗ trợ của người nhà, người giúp việc. Hàng ngày NCT cần vệ sinh sạch sẽ họng miệng bằng hình thức đánh răng, súc họng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy. NCT có hàm răng giả, cần vệ sinh hàng tuần hoặc vài ba ngày một lần. Vào mùa lạnh, mưa rét nên hạn chế đi ra đường, nếu công việc không thể trì hoãn, cần thiết mặc ấm, chân tay cần có tất, cổ quàng khăn ấm, đầu đội mũ ấm và đeo khẩu trang. Đồng thời nên có chế độ dinh dưỡng hợp lý để tăng sức đề kháng và không nên hút thuốc. Nên vận động cơ thể hàng ngày bằng các động tác tập thể dục buổi sáng và tập hít thở đều (hít sâu, thở ra từ từ).

PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU

Biện pháp làm chậm lão hóa

0

Suckhoedoisong.vn – Sinh, lão, bệnh, tử là quy luật của con người. Vì vậy, lão hóa là một điều tất yếu trong vòng đời của mỗi chúng ta, bởi vì tế bào cũng như cuộc đời, được sinh ra phát triển, trưởng thành với các chức năng sinh học để rồi tế bào cũng “lão suy” và chết theo quy trình đã định sẵn mà y học gọi là cái chết của tế bào (hay apoptosis).

Quá trình lão hóa diễn ra nhanh, chậm rất khác nhau, phụ thuộc vào những yếu tố bên trong như gene, các hormon (nội tiết tố) và tuổi tác cũng như các yếu tố bên ngoài như môi trường, công việc, gia đình…

Những yếu tố khiến cơ thể nhanh lão hóa
Ngoài những tác động áp lực của sự mưu sinh cuộc sống, lao động, lo toan cho gia đình, cơm áo gạo tiền mà hầu như bất kỳ một cá nhân nào cũng phải đối mặt thì những thói quen, nếp sống trong sinh hoạt hàng ngày đã tác động không nhỏ và đó là những nguyên nhân chung gây ra hiện tượng lão hóa sớm cho cả hai giới nam và nữ.

Thói quen ngồi một chỗ và lười vận động không chỉ có hại cho sức khỏe, giãn tĩnh mạch hai chi dưới, bị trĩ mà còn khiến da bị lão hóa sớm. Lo lắng và căng thẳng tạo ra nhiều nếp nhăn trên trán và lâu dần sẽ hình thành những nếp nhăn cố định, khiến khuôn mặt trông như “già trước tuổi”. Bên cạnh đó, mất ngủ gây thiếu ngủ, ngủ không đủ giấc có thể làm mất cân bằng hormon dẫn đến tình trạng gia tăng lượng cortisol, mất cân bằng oxy hóa. Bên cạnh các yếu tố chung, mỗi giới nam và nữ còn có những yếu tố riêng mang đặc trưng giới tính gây ra hiện tượng lão hóa sớm.

Đối với nữ giới thì vấn đề sinh nở, cường độ làm việc cao (cả việc nhà và việc cơ quan), mặc cảm, thiếu tự tin (không dám làm đẹp cho mình), dễ dãi với bản thân hay chăm sóc bản thân không đúng cách… là những yếu tố thúc đẩy quá trình lão hóa sớm. Bên cạnh đó, sự suy giảm estrogen, nội tiết tố nữ, bắt đầu từ tuổi 35 và suy giảm nhanh chóng sau tuổi 40 càng khiến cơ thể nhanh lão hóa với biểu hiện khô, nám da, da nhăn nheo, kém tươi tắn.
Biện pháp làm chậm lão hóaTập luyện thường xuyên là một cách làm chậm lão hóa.

Đối với nam giới việc suy giảm nội tiết tố nam testosteron, đặc biệt sau tuổi 40, do căng thẳng thường diễn ra một cách từ từ nên không được chú ý đúng mức không chỉ gây cho nam giới nhiều phiền toái về sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến hình dáng như rụng tóc, béo phì…

Biện pháp làm chậm lão hóa
Lão hóa là hiện tượng tự nhiên không thể nào tránh khỏi. Không có loại thuốc nào giúp kéo dài sự sống nhưng ta có thể sống một cuộc sống khỏe mạnh hạnh phúc lúc tuổi già. Nghĩa là ta có thể làm chậm hay giảm thiểu được những hậu quả không mong muốn của quá trình lão hóa, vẫn có thể duy trì được sức khỏe về thể chất lẫn tinh thần, giữ được tính năng động và độc lập trong cuộc sống. Muốn đạt được điều này cần nỗ lực thực hiện những yêu cầu sau:

Kiểm tra sức khỏe định kỳ: Nhờ khám sức khỏe định kỳ bạn có thể phát hiện sớm trước khi bệnh trở nặng. Hãy luôn chú ý đến những bất thường của cơ thể ngay từ khi mới phát hiện và trao đổi với bác sĩ là cách tốt nhất để giữ gìn sức khỏe. Thận trọng khi dùng thuốc chữa bệnh, tốt nhất là chỉ dùng khi có ý kiến của bác sĩ hay dược sĩ.

Dinh dưỡng tốt: Khẩu phần cân đối, ăn nhiều rau quả, chất xơ, không ăn mỡ bão hòa, hạn chế thức ăn thức uống có đường, không ăn vặt. Càng lớn tuổi càng phải giảm bớt lượng calo đưa vào cơ thể. Nên hỏi ý kiến bác sĩ có nên dùng thêm vitamin bổ sung hoặc các loại thực phẩm chúc năng. Hạn chế rượu bia, uống nhiều nước.

Rèn luyện thể chất và tinh thần: Tập luyện đều đặn, một ngày ít nhất 30 phút. Hãy chọn bất cứ môn nào bạn thích: đi bộ, chạy, đạp xe, tập yoga, chơi thể thao, khiêu vũ… Nếu có bệnh, cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi tập môn gì. Đều đặn tập luyện mỗi ngày có thể làm cho người ta trẻ lại 10-15 tuổi.

Đọc sách, chơi cờ, chơi ô chữ, học một môn học mới rất tốt để giữ tinh thần khỏe mạnh. Ngay cả khi tuổi đã già cũng không nên ngưng học vì sử dụng bộ não là bạn cải thiện sức khỏe cho tinh thần.

Thái độ sống tích cực lạc quan sẽ giúp bạn kéo dài tuổi thọ, khỏe mạnh và hạnh phúc hơn. Tiếng cười là phương thuốc tốt nhất giúp giảm stress và làm cho người ta trẻ lại, vì vậy đừng để một ngày qua đi mà không có nụ cười. Cần phải linh hoạt và chấp nhận những thay đổi bởi vì đó là điều tất yếu của cuộc sống. Gạt bỏ đi những tư tưởng bi quan tiêu cực vì chúng cũng nguy hại như độc chất làm hủy hoại sức khỏe của bạn. Đời người là một cuộc hành trình, còn biết bao điều thú vị ta chưa khám phá. Hãy tận hưởng cuộc sống.

TS. BS. Nguyễn Hữu Hạnh

Ăn cá có lợi cho sức khỏe

0

Cá là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng và chữa được nhiều bệnh.Cá có nguồn đạm quý với đủ các acid amin cần thiết, trong đó hàm lượng lysin, tirozin, tryptophan, systin, methionin cao hơn thịt. Chất đạm của cá tươi lại dễ tiêu hóa, dễ hấp thu hơn so với thịt.

Cá là thực phẩm giàu chất dinh dưỡng và chữa được nhiều bệnh.Cá có nguồn đạm quý với đủ các acid amin cần thiết, trong đó hàm lượng lysin, tirozin, tryptophan, systin, methionin cao hơn thịt. Chất đạm của cá tươi lại dễ tiêu hóa, dễ hấp thu hơn so với thịt.
Loại thực phẩm ít chất béo và giàu axít omega – 3

Mọi người đều biết, ăn nhiều thực phẩm giàu chất béo như mỡ động vật không có lợi cho sức khỏe. Trong cá có chứa rất ít chất béo dạng này, đồng thời lại có nhiều axít béo omega – 3, là thành phần đặc biệt cần thiết đối với quá trình phát triển não bộ ở con người, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền nhận tín hiệu giữa các tế bào. Thành phần chủ yếu trong omega – 3 là DHA cũng chính là thành phần quan trọng thúc đẩy hình thành chất xám trong não và giúp cho trẻ nhỏ phát triển trí thông minh. Axít omega – 3 chứa rất nhiều trong cá và một số loại hải sản khác như tôm, sò…

Cá chứa nhiều axít béo omega-3. Ảnh: TL
Giàu protein, vitamin và khoáng chất

Các loại thịt động vật như lợn, bò… chứa rất nhiều protein, song nếu ăn nhiều lại không tốt cho sức khỏe, có thể gây ra chứng thừa đạm, béo phì, tiểu đường… Ngược lại, bạn có thể ăn cá thoải mái mà không phải lo nghĩ gì. Protein của cá rất dễ hấp thụ, tốt cho hệ tiêu hóa và tim mạch. Trong cá cũng có chứa rất nhiều vitamin thiết yếu như vitamin A, D, phốt pho, magiê, kẽm, và iốt… Đặc biệt canxi có chứa trong một số loại cá như cá hồi còn góp phần giúp cho xương chắc khỏe.

Dầu cá tốt cho quá trình phát triển của trẻ nhỏ

DHA có trong dầu cá chính là nguyên nhân tạo nên tác động có lợi này. DHA giúp trẻ mới sinh phát triển thông minh và sáng mắt, đồng thời hoàn thiện quá trình phát triển chức năng não bộ. Phụ nữ khi mang thai hấp thụ được nhiều axít omega – 3 trong cá biển sẽ sinh ra con khỏe mạnh, thông minh hơn nhiều so với bình thường. Đó là kết quả nghiên cứu mà các nhà khoa học thuộc nhiều quốc gia trên thế giới đã chứng minh.

Ăn nhiều cá giúp làm giảm nguy cơ đột quị, bệnh tim mạch

Theo kết quả nghiên cứu của Đại học tổng hợp Harvard – Mỹ, việc ăn cá đều đặn hàng tuần sẽ giúp cung cấp lượng omega – 3 cần thiết để ngăn chặn nguy cơ mắc bệnh tim. Ngoài ra, omega – 3 còn giúp giảm nồng độ triglyceride trong máu và giảm hiện tượng máu bị vón cục dẫn tới tắc nghẽn mạch máu.

Vì vậy, cá là một loại thực phẩm rất tốt, đặc biệt với người già và trẻ nhỏ. Bởi chất EPA có trong axit béo không no (có rất nhiều ở các giống cá lưng xanh) có thể phòng chống được bệnh xơ vữa động mạch và nhồi máu cơ tim. Còn chất DHA cũng có trong axit béo không no của cá và có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của tế bào não và hệ thần kinh. Thiếu chất này con người sẽ giảm trí nhớ, kém thông minh. Trẻ em cần DHA để phát triển tế bào não. Người cao tuổi cần DHA để làm chậm lão hóa bộ não, tránh lú lẫn lúc về già.

Trong cá, hàm lượng DHA tập trung nhiều hơn ở đầu cá. Vì vậy, bạn không nên rán cá, nhất là ở nhiệt độ cao sẽ làm chất DHA bị phân hủy mà nên ăn cá luộc hoặc cá nấu để tận dụng hàm lượng DHA có trong đầu cá.

BS. Nguyễn Thùy Hương

Dễ chẩn đoán nhầm, vì sao?

0

Viêm loét đại trực tràng chảy máu thường xảy ra ở người trẻ nhưng chưa xác định được rõ ràng căn nguyên của bệnh nên việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn.

Viêm loét đại trực tràng chảy máu thường xảy ra ở người trẻ nhưng chưa xác định được rõ ràng căn nguyên của bệnh nên việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, bệnh còn cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh đường tiêu hóa khác như bệnh Crohn, viêm đại tràng mạn tính do nhiễm khuẩn và ký sinh trùng, viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ hay do tia xạ… và để lại nhiều biến chứng như áp-xe hậu môn, hẹp đại tràng, ung thư hóa…

Bệnh Crohn dễ chẩn đoán nhầm với viêm loét đại trực tràng chảy máu.
Mỗi thể bệnh có những biểu hiện

khác nhau

Nổi bật và thường gặp nhất trong viêm loét đại trực tràng chảy máu là đau bụng và tiêu chảy phân máu, kèm theo sốt và sút cân. Tùy từng giai đoạn mà có các biểu hiện khác nhau, thông thường người ta chia làm 3 thể:

Thể nhẹ: là thể thường gặp chiếm trên 60% trường hợp, triệu chứng đại tiện nhầy máu chỉ kéo dài dưới 4 ngày, không có thay đổi thể trạng, không có thiếu máu hoặc giảm protein máu. Bệnh thường chỉ khu trú ở trực tràng hoặc đại tràng sigma, hiếm khi có tổn thương cao hơn ở phía trên. Các biểu hiện ngoài ruột là rất hiếm. Thể này cũng có thể diễn tiến thành thể nặng hơn.

Thể trung bình: chiếm khoảng 25% trường hợp, các đợt tiêu chảy thường khởi đầu bằng đau quặn bụng, rồi đại tiện phân máu, có thể xảy ra vào ban đêm nhưng số lần đại tiện thường dưới 6 lần/ngày. Thường kèm theo sốt, giảm protein máu, làm bệnh nhân mệt mỏi. Tiên lượng trong thể này kém hơn.

Thể nặng hoặc thể sét đánh: chiếm khoảng 15% trường hợp, số lần đại tiện phân máu hơn 6 lần/ngày và thường xảy ra về ban đêm. Thường có cảm giác đau rát, buốt hậu môn và mót rặn. Tổng trạng suy sụp với nhịp tim nhanh, huyết áp hạ, sốt cao, bụng trướng. Nếu không được điều trị thì tiến triển rất nặng đưa đến tử vong do xuất huyết trầm trọng hoặc giãn đại tràng nhiễm độc.

Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng lâm sàng và các biểu hiện đặc trưng khi nội soi đại trực tràng kết hợp với sinh thiết. Khi soi đại trực tràng cần cẩn thận không nên bơm hơi nhiều vì có thể gây thủng ruột.

Biến chứng có thể xảy ra

Các biến chứng nhẹ của ruột là giả polýp, chỉ xảy ra trong 20% trường hợp, các biến chứng ít gặp hơn là nứt hậu môn, rò và áp-xe hậu môn.

Các biến chứng nặng của ruột là chảy máu trầm trọng, hẹp đại tràng, phình đại tràng nhiễm độc, thủng và có thể đưa đến ung thư. Một số biến chứng khác như viêm đường mật, viêm khớp, hồng ban nút, viêm da mủ hoại thư, viêm xơ đường mật tiên phát, viêm thận bể thận và sỏi, trong đợt cấp nặng của viêm loét đại trực tràng chảy máu lan rộng có thể có biến chứng đông máu rải rác nội mạch.

Viêm loét đại trực tràng chảy máu có thể gây biến chứng viêm thận bể thận.
Điều trị bệnh cần kết hợp dùng thuốc và chế độ sinh hoạt hợp lý

Thông thường, trong viêm loét đại trực tràng chảy máu, các thuốc thường được dùng phối hợp là corticoid, sulfasalazin và các dẫn chất của nó, azathioprin, cyclosporin. Tuy nhiên, tùy theo tình trạng, giai đoạn của bệnh, tổng trạng của bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định dùng thuốc cụ thể. Ngoài việc sử dụng thuốc cũng cần chú ý đến chế độ ăn uống và sinh hoạt của bệnh nhân, động viên bệnh nhân bằng các liệu pháp tâm lý, trong trường hợp thiếu hụt men lactase thì không cho bệnh nhân dùng sữa, trong đợt tiến triển khẩu phần ăn cần hạn chế chất xơ.

Không dùng các chế phẩm của thuốc phiện, thuốc chống tiêu chảy và thuốc kháng cholin vì có thể gây ra phình đại tràng, đặc biệt trong trường hợp có biến chứng phình đại tràng nhiễm độc, bệnh nhân phải được theo dõi và điều trị trong trung tâm hồi sức tích cực. Viêm loét đại trực tràng chảy máu cần được theo dõi thường xuyên 6 tháng 1 lần bằng soi đại tràng và sinh thiết đại tràng và đại tràng sigma để kịp thời phát hiện giai đoạn loạn sản nặng hoặc là giai đoạn đầu của tiến triển ung thư.

Viêm đại tràng dễ chẩn đoán nhầmvới các bệnh nào?

– Viêm đại tràng mạn do nhiễm khuẩn và ký sinh trùng: thường gặp nhất là do Chlamydia, herpes và amíp, lao ruột, lỵ trực khuẩn, viêm đại tràng giả mạc do Clostridium diffcile.

– Bệnh Crohn: đây là loại bệnh có cơ chế bệnh sinh và hình thái lâm sàng rất gần với viêm loét đại trực tràng chảy máu, chẩn đoán phân biệt cần dựa vào nội soi với hình ảnh tổn thương khu trú hay nhảy cóc, nhất là sinh thiết với sự hiện diện của tế bào biểu mô khổng lồ.

– Bệnh viêm đại tràng do thiếu máu cục bộ: bệnh thường xảy ra ở người cao tuổi có dấu hiệu xơ vữa động mạch. Lâm sàng có dấu hiệu thiếu máu ruột sau khi ăn. Xác định bằng chụp nhuộm động mạch mạc treo thấy hình ảnh teo hẹp.

– Viêm đại tràng do tia xạ: tiền sử bệnh nhân có chiếu tia xạ vùng bụng nhất là hạ vị.

ThS.BS. Nguyễn Bạch Đằng

Cẩn trọng khi ăn chay

0

Ăn chay giúp thanh lọc cơ thể. Tuy nhiên, nhiều người ăn chay trường vẫn có thể mắc các bệnh mãn tính như huyết áp, tiểu đường, tim mạch, rối loạn lipid máu…

Ăn chay giúp thanh lọc cơ thể. Tuy nhiên, nhiều người ăn chay trường vẫn có thể mắc các bệnh mãn tính như huyết áp, tiểu đường, tim mạch, rối loạn lipid máu…

So với chế độ dinh dưỡng thông thường, ăn chay có nhiều ưu điểm: chất đạm dễ tiêu hóa, ít gây dị ứng, lượng chất đạm vừa phải giúp giảm nguy cơ bệnh thống phong, giảm thải canxi qua đường thận, giảm nguy cơ sa sút trí tuệ lúc tuổi già; chất béo có nhiều acid béo không no và hoàn toàn không có cholesterol, có lợi cho tim mạch; dồi dào vitamin, khoáng chất, chất xơ, phytochemical từ rau trái giúp bảo vệ cơ thể, duy trì tuổi xuân, phòng chống ung thư…

Ăn chay cũng có thể gây một số bất lợi cho sức khỏe.
Dù vậy, ăn chay cũng có thể gây một số bất lợi cho sức khỏe. Chất đạm trong các thức ăn thực vật không đủ acid amin thiết yếu; chất béo tuy không có cholesterol nhưng có các acid béo no, nhất là trong nước cốt dừa và các dạng bơ thực vật như margarine, shortening… không tốt cho tim mạch. Trong rau củ cũng có nhiều chất gây cản trở sự hấp thu các chất dinh dưỡng khác. Những người ăn chay trường thường dễ bị thiếu máu, loãng xương, giảm đề kháng… do thiếu các vi chất dinh dưỡng như acid folic, sắt, vitamin B12, kẽm, canxi…

Vì vậy, ăn chay chỉ có thể trở thành một cách ăn kiêng có lợi cho sức khỏe khi loại bỏ được các yếu tố nguy cơ nói trên. Nên chọn cách ăn chay kèm sữa, trứng và lưu ý kết hợp các thành phần trong bữa ăn.

Để cân đối chất đạm, nên trộn thêm các loại đậu vào gạo dùng nấu cơm hay cháo, hoặc ăn cơm với mè, đậu phộng, uống thêm một ly bột ngũ cốc sau bữa cơm.

Hạn chế tối đa nước cốt dừa và các loại chất béo đông đặc. Tránh chiên xào các loại thực phẩm trong dầu trước khi kho nấu để tránh làm tăng lượng chất béo trong khẩu phần.

Những món ăn lên men như tương, chao, cải muối, dưa cải, cà… có hàm lượng muối rất cao, chỉ nên dùng hạn chế và nên loại khỏi danh sách thực phẩm của những người cao tuổi có bệnh huyết áp, tim mạch, bệnh thận hay tiểu đường.

Chế biến qua nhiều công đoạn sẽ làm mất các vitamin dễ phân hủy như vitamin B2, B3, B6, B9, C… Vì vậy, nên chế biến thức ăn đơn giản nhất có thể: canh rau, đậu hũ kho hay chiên, xào thập cẩm… Dưỡng chất sẽ được bảo quản tốt nhất và không sinh thêm các thành phần có hại cho sức khỏe.

Với những người ăn chay trường, có thể sử dụng thêm vi chất dinh dưỡng dưới dạng thuốc bổ.

Với những người trẻ và khỏe mạnh, chỉ ăn chay một hai ngày trong tuần để thay đổi khẩu vị. Khi ăn chay trên một tuần hoặc muốn áp dụng ăn chay để phòng trị bệnh, thì bắt buộc phải quan tâm đến việc cân đối bữa ăn để đảm bảo một chế độ ăn phù hợp nhất cho sức khỏe. Nhìn từ góc độ dinh dưỡng, nếu khéo léo cân đối các thành phần dưỡng chất qua việc lựa chọn và chế biến thực phẩm thích hợp, thì chế độ ăn chay không liên tục (một ngày mỗi tuần, một tuần mỗi tháng hoặc ba tháng mỗi năm) thật sự là một chế độ ăn kiêng giúp bảo vệ sức khỏe và chất lượng cuộc sống.

Theo PNO

Chế độ ăn khi bị gút

0

Suckhoedoisong.vn – Tôi bị viêm khớp do gút. Tôi đã uống thuốc hiện không bị sưng đau nữa, xét nghiệm lại thì axit uric máu chỉ còn 47…

Tôi bị viêm khớp do gút. Tôi đã uống thuốc hiện không bị sưng đau nữa, xét nghiệm lại thì axit uric máu chỉ còn 47, như thế có phải quá thấp không? Xin bác sĩ tư vấn về chế độ ăn và dùng thuốc? Cảm ơn bác sĩ.

Nguyễn Lục Quân (quanlnms@gmail.com)

Bệnh gút là bệnh rối loạn chuyển hóa các nhân purin, có đặc điểm chính là tăng axit uric trong máu. Tình trạng viêm khớp trong bệnh gút là do sự lắng đọng các tinh thể urat trong dịch khớp và các mô khi nồng độ axit uric trong máu bão hòa. Chỉ số khi xét nghiệm axit uric máu tăng khi nam giới trên 70mg/L (hay 420µmol/L), nữ giới trên 60mg/L (hay 360µmol/L). Còn dưới chỉ số trên là bình thường. Vì trong thư bác không nói đơn vị đo axit uric là µmol/L hay mg/l nên cũng chưa thể khẳng định được chỉ số 47 là thấp, nếu là 47mg/L thì cũng bình thường. Sở dĩ như vậy là vì tùy theo phòng xét nghiệm mà đơn vị đo sẽ khác nhau (là mg/L hay µmol/ L) bác ạ. Trong quá trình dùng thuốc điều trị gút cần xét nghiệm kiểm tra định kỳ nếu chỉ số axit uric trở về mức bình thường thì có thể ngừng thuốc. Tuy nhiên, một số thuốc điều trị bệnh khác cũng có thể gây tăng uric máu (chẳng hạn thuốc chống lao…) nhưng khi ngừng dùng thì uric máu sẽ trở lại bình thường. Lưu ý, thực đơn lâu dài cho bệnh gút là thực hiện chế độ ăn như thông thường nhưng cần lựa chọn thực phẩm như hạn chế thức ăn nhiều purin như óc, gan, bầu dục, nấm, măng tây, cà chua; thức uống có khả năng gây đợt gút cấp (rượu, bia, nước ngọt có ga), cà phê, chè (có chứa metyl purin khi bị ôxy hóa sẽ tạo thành metylacid uric). Các nhà nghiên cứu Mỹ đã khảo sát 2.051 người mắc bệnh gút, 20% trong số họ cho biết cà chua là nguyên nhân khiến căn bệnh này thêm trầm trọng. Sau đó, họ đã phân tích dữ liệu từ 12.720 người và thấy rằng ăn cà chua làm tăng nồng độ axit uric trong máu.

BS. Trần Quang Nhật

Vì sao đau dạ dày hay tái phát?

0

Suckhoedoisong.vn – Tôi 40 tuổi, bị đau dạ dày đã mấy năm, hay trướng bụng trên, ợ hơi, ợ chua, nóng ruột cồn cào… Xin hỏi bệnh của tôi điều trị thế nào? Vì sao hay tái phát? Tôi cần ăn uống kiêng khem thế nào? Xin cảm ơn!

Nguyễn Thị Nhàn (Hà Nội)

Vì sao đau dạ dày hay tái phát?

Theo thư mô tả thì bạn bị bệnh dạ dày mạn tính. Đau dạ dày mạn tính là tên gọi chung. Thực tế là một bệnh rất phức tạp, do nhiều nguyên nhân như vi khuẩn, thuốc điều trị bệnh khác, kể cả do thần kinh thực vật… Tuy nhiên, để điều trị, cần được thăm khám và chẩn đoán cụ thể. Đặc biệt qua nội soi sẽ biết vị trí viêm loét và qua đó lấy tế bào làm giải phẫu để tìm nguyên nhân gây loét. Nếu nguyên nhân do vi khuẩn H.pylori thì cần điều trị kháng sinh theo chỉ dẫn của bác sĩ. Nếu dạ dày tăng toan nhiều (bệnh nhân bị ợ chua, nôn nao, cảm thấy nóng ruột, ăn nhiều nhưng dễ đói) có thể ăn thêm rau xanh nhiều xơ, bánh bích quy… Kiêng ăn các thực phẩm ướp hoặc xào rán, ít ăn các thực phẩm muối mặn (dưa cà muối) và các loại bánh quá ngọt. Người bệnh cần thực hiện các quy tắc ăn uống, sinh hoạt sau đây: Không sử dụng các chất kích thích như rượu, thuốc lá, cà phê đặc hoặc trà đặc. Ăn uống thanh đạm, ăn những thứ dễ tiêu hóa. Tránh ăn chua, ăn nguội, quá nóng, quá cay và đồ khô rắn, tránh để đói hoặc no quá. Khi ăn phải nhai chậm, nhai kỹ sẽ có lợi cho tiêu hóa. Một ngày chia thành nhiều bữa ăn, số lượng thức ăn trong mỗi bữa có thể ít đi. Ăn uống phải đúng giờ. Điều cần quan tâm nếu viêm teo niêm mạc dạ dày có thể dẫn đến ung thư. Do đó, bạn cần đi khám nội soi để sàng lọc sớm.

BS. Trần Quang Nhật

Nhận biết viêm họng hạt

0

Suckhoedoisong.vn – Tôi năm nay 41 tuổi, khoảng 1 tháng gần đây cổ họng luôn bị khô rát, nuốt nước bọt cũng khó. Mấy hôm gần đây lại có cảm giác nghèn nghẹn. Xin hỏi bác sĩ có phải tôi bị viêm họng hạt? Cách điều trị?

Nguyễn Vũ Đồng (vudong@gmail.com)

Viêm họng hạt là bệnh hay gặp ở người lớn, là tình trạng viêm nhiễm kéo dài và liên tục nhiều lần của niêm mạc vùng hầu họng và amidan, dẫn tới các mô lympho ở thành sau họng phình lên. Nguyên nhân thường gặp là do viêm mũi xoang mạn tính làm dịch chảy từ các xoang xuống thành sau họng khiến niêm mạc thành sau họng bị lớp chất nhầy bao phủ, không thực hiện được chức năng làm sạch, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập làm họng viêm và bắt đầu xuất hiện hạt ở thành sau họng; viêm amidan mạn tính, dù bệnh nhân có điều trị viêm amidan bằng cách phẫu thuật thì viêm họng hạt vẫn có thể xuất hiện, thậm chí nhiều hơn do các lympho ở thành sau họng sẽ phát triển để bù đắp vào phần đã bị cắt bỏ. Ngoài ra, viêm họng hạt còn do một số nguyên nhân như làm việc trong môi trường ô nhiễm, các hóa chất độc hại, khói thuốc lá, do hội chứng trào ngược dạ dày, suy gan, rối loạn dạ dày… Biểu hiện của bệnh viêm họng hạt: người bệnh chỉ có một vài triệu chứng ngứa hay vướng họng, thường hay khạc nhổ để cảm giác ngứa họng bớt đi. Đôi lúc họng thấy khô rát khó chịu nhưng không có triệu chứng sốt như những bệnh tai mũi họng thông thường khác. Bằng mắt thường có thể quan sát thấy thành sau họng có nhiều hạt lớn nhỏ như đầu đinh ghim hoặc hạt ngô, có nhiều hạt nối liền với nhau bằng những dây máu đỏ. Trường hợp của anh nên đến khám và điều trị tại chuyên khoa tai-mũi-họng.

BS. Hoàng Văn Thái

Suy thận nhẹ, dùng thuốc thế nào?

0

Suckhoedoisong.vn – Tôi năm nay đã ngoài 70 tuổi, đi khám được biết bị suy thận nhẹ và phải cẩn trọng mỗi khi dùng thuốc. Mong bác sĩ tư vấn tôi nên dùng thuốc như thế nào?

Tôi năm nay đã ngoài 70 tuổi, đi khám được biết bị suy thận nhẹ và phải cẩn trọng mỗi khi dùng thuốc. Mong bác sĩ tư vấn tôi nên dùng thuốc như thế nào? Xin cảm ơn bác sĩ!

Trần Trọng Hùng (Quảng Ninh)

Khi thận giảm chức năng cần có sự điều chỉnh về liều lượng thuốc cho phù hợp. Khi sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân giảm chức năng thận vì người bị bệnh thận thường có tình trạng suy giảm miễn dịch nên tần suất mắc các bệnh nhiễm khuẩn tăng và cần điều trị bằng kháng sinh. Do vậy việc chỉ định loại thuốc, đường dùng, liều dùng, khoảng cách giữa hai liều dùng, thời gian dùng được các thầy thuốc điều trị cân nhắc cẩn thận dựa vào thể trạng, tuổi, giới tính, mức lọc cầu thận, có lọc ngoài thận hay không (chạy thận nhân tạo chu kỳ hoặc lọc màng bụng liên tục ngoại trú).

Bệnh nhân suy thận chỉ dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.

Vì thực tế thuốc có thể làm bệnh thận nặng lên, do đó những người bị bệnh thận phải rất thận trọng khi dùng các loại thuốc: chống viêm không steroid như indometacin, diclofenac, ketorolac, piroxicam, fenoxicam, ibuprofen, ketoprofen. Các thuốc kháng sinh gây độc thận như nhóm aminoglycosid (amikacin, tobramycin, gentamycin, kanamycin, streptomycin), rifampicin, vancomycin. Thuốc cản quang để chụp thận. Ngay cả dung dịch truyền dextran, immunoglobulin, hay amphotericin, cisplatin, mesalazin.

Có nhiều loại thuốc trong trị liệu có tác dụng không mong muốn, chẳng hạn nhóm digitalin (digoxin): khi suy thận, rối loạn điện giải (tăng canxi huyết hoặc hạ kali huyết) và sau buổi lọc máu dùng digoxin có thể bị nhiễm độc. Nhóm anticholinergic như trihexyphenidyl có thể gây bí đái, đái không tự chủ. Cyclophosphamid gây viêm bàng quang xuất huyết. Nhóm độc tế bào, methotrexat, acyclovir có thể gây tăng urê huyết và suy thận cấp chức năng. Nhóm giảm mỡ máu như fibrat, statin có thể gây tăng men gan (GOT, GPT) và giảm chức năng thận.

Bác đã cao tuổi, lại có bệnh mạn tính nên việc dùng thuốc phải rất cẩn thận. Tốt nhất, bác chỉ dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ dù bất cứ một thứ thuốc nào, kể cả thực phẩm chức năng. Chúc bác mạnh khỏe!

BS. Hoàng Thanh Sơn

MOST COMMENTED

Hí hửng khoe với chồng mình có bầu và lặng người...

Lấy nhau hơn 2 năm, tôi chưa có bầu. Tôi luôn lo lắng bồi hồi vì sợ một ngày nào đó chồng sẽ có...